Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY THỰC HÀNH 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Trên thế giới Ngay từ khi tin học ra đời với công cụ là máy tính điện tử khổng lồ, thì giáo dục đã có nhiệm vụ đào tạo ra những người có thể sử dụng được máy tính đó. Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, một số nước đã nghiên cứu và thử nghiệm giáo dục tin học mở rộng ở các trường phổ thông.
Cuối những năm 70, tin học đã bước sang một giai đoạn mới về chất do việc phát minh ra bộ vi xử lý, tạo ra bước nhảy vọt cho một thế hệ mới máy tính điện tử: máy vi tính, đồng thời các ngôn ngữ giao tiếp với máy tính điện tử trở nên gần với ngôn ngữ tự nhiên hơn đã tạo điều kiện đưa tin học phát triển trong trường học. [11] Việc đưa máy tính vào trường học cùng với môn Tin học đã và đang được quan tâm đặc biệt tại đa số các nước trên thế giới. Ở Pháp từ lâu đã thí điểm trên lĩnh vực giáo dục Tin học trên 58 trường cao trung vào đầu những năm 70. Hay như ở một số nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương việc phát triển giáo dục Tin học mạnh mẽ từ những năm 1979 – 1980 trong các hệ thống giáo dục với dấu ấn là “Hội nghị chuyên đề Châu Á lần thứ ba về kỹ thuật giáo dục” tháng 9/1984 ở Tokyo đã tạo cơ hội cho các nước Châu Á – Thái Bình Dương trao đổi những kinh nghiệm về việc đưa Tin học vào trong giáo dục.
[11] Tin học đang dần trở thành một môn học chính thức được giảng dạy ở các cấp học tại các nước phát triển và đang phát triển. Môn học này giúp HS làm quen với phương pháp giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ và kỹ năng sử dụng máy tính phục vụ cho học tập và cuộc sống. Vì vậy, việc hình thành kỹ năng cho HS qua những giờ thực hành tin học là rất quan trọng.A Ilina trong cuốn “Giáo dục học” (tập II, NXB Giáo dục năm 1973) đã đề cập đến nhiều kỹ năng thực hành của HS: kỹ năng làm việc với SGK; kỹ năng học tập ở phòng thí nghiệm, thực nghiệm; kỹ năng luyện tập, ôn tập… Ông xem công tác thực hành của HS như một phương pháp dạy học tích cực giúp các em nắm vững, hiểu sâu hơn bài học và phát huy được tính độc lập, sáng tạo của mình. [24] Cuốn “Giáo dục học” của N.Savin (NXB Giáo dục năm 1978) đã nhấn mạnh mục đích của công tác thực hành là để đảm bảo việc củng cố và cụ thể hóa các tri thức lý luận mà HS đã thu nhận được, thực hiện đầy đủ hơn mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
Thông qua việc quan sát HS thực hành, ông cũng nhận thấy trong quá trình thực hiện công việc, nhất là những công việc mang tính tổng hợp dễ làm nảy sinh ở các em những nhu cầu áp dụng tri thức. Nó cũng có thể là những tri thức mà HS đã tiếp nhận để đưa ra sử dụng trong những tình huống quen thuộc, hoặc cũng có thể là những sáng tạo mới, nhờ đó mà khả năng sáng tạo tiếp tục phát triển. Cũng theo tác giả, việc mở rộng khối lượng các công việc thực hành trong học tập đã thúc đẩy lý luận dạy học tìm kiếm các điều kiện để nâng cao hiệu quả của chính biện pháp này. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, giai đoạn 1996 – 2007 là giai đoạn Tin học phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có, thành lập Bộ Bưu chính Viễn thông, chương trình Quốc gia về CNTT, nhiều nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển CNTT, các trung tâm phần mềm ra đời, hình thành các khu CNC.
đặc biệt là được kết nối với mạng toàn cầu internet. Điểm mốc của giai đoạn này là sự ra đời của hai bộ luật là Luật Giao dịch điện tử (11/2005) và Luật Công nghệ thông tin (6/2006). Tin học đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa vào chương trình phân ban cho khối THPT bắt đầu từ năm học 2006 – 2007, việc triển khai môn học này trở thành bắt buộc trên phạm vi toàn quốc. Đến nay, việc dạy học môn học này vẫn đang từng bước được đổi mới về nội dung, phương pháp, phương tiện và cách thức kiểm tra đánh giá.
Đặc biệt các vấn đề về đổi mới, cải tiến phương pháp dạy 7 Luan van học thực hành và phương pháp dạy thực hành môn Tin học đã và đang thu hút được nhiều nhà giáo dục quan tâm, chẳng hạn như: Bài đăng trên tạp chí khoa học sư phạm của Nguyễn Trọng Bình – Trần Sinh Thành – Nguyễn Trần Nghĩa: “Cần đổi mới phương pháp dạy học thực hành để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lao động kỹ thuật phục vụ công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học sư phạm: Khoa học giáo dục (Trường ĐHSP Hà Nội), số 3, 2001. Tác giả Phạm Văn Thông, Đại học Bách khoa Hà Nội (2006) với đề tài “Đổi mới dạy thực hành nghề sửa chữa ô tô tại trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh theo định hướng năng lực thực hiện”. Tác giả Hồ Nguyên Khang, Đại học Sư phạm kỹ thuật (2012) với đề tài “Đổi mới phương pháp dạy thực hành nghề điện dân dụng lớp 11 theo hướng tích cực hóa người học tại trung tâm giáo dục thường xuyên Giá Rai – Bạc Liêu”. Với đề tài “Cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học trong giảng dạy môn nghề tin học văn phòng tại trung tâm giáo dục thường xuyên – kỹ thuật hướng nghiệp Dĩ An, tỉnh Bình Dương” (2011), tác giả Nguyễn Thị Minh Trang đã đưa ra những cải tiến về PPDH theo hướng tích cực hóa người học trong cả giờ dạy lý thuyết và giờ dạy thực hành.
Trong đề tài này tác giả đề cập đến việc xây dựng các kỹ năng thực hành bằng việc cho HS thực hiện các thao tác thực hành song song từng bước một với bài giảng lý thuyết. Tác giả tiến hành nghiên cứu khảo sát thực trạng dạy học môn Tin học lớp 9 tại trường THCS Tam Đông 1. Từ đó, triển khai quy trình dạy học theo hướng tích cực hóa người học môn Tin học lớp 9 tại cơ sở này. [12] 8 Luan van Trong luận văn “Cải tiến phương pháp dạy học môn Tin học lớp 7 theo hướng tích cực hóa người học tại Trường THCS Tân Đông Hiệp, Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương” (4/2013), tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thạch đã đưa ra những cải tiến PPDH môn tin học lớp 7 theo hướng tích cực hóa người học phù hợp với tình hình thực tế của trường.
Trong đó, tác giả đã đặc biệt chú trọng việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trong quá trình dạy học cũng như áp dụng đa dạng các hình thức tổ chức dạy học. [14] Bài báo khoa học “Dạy học môn nghề tin học phổ thông cấp THCS theo lý thuyết học tập trải nghiệm của Kolb” được đăng trên Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 166 của nhóm tác giả Bùi Văn Hồng, Nguyễn Thị Vân đã đề xuất triển khai dạy học môn nghề tin học cấp THCS theo lý thuyết học tập trải nghiệm của Kolb. Nhóm tác giả đã xây dựng được tiến trình học tập phù hợp với đặc điểm và trình độ của HS THCS trong môn nghề tin học. Kết quả cho thấy hoạt động dạy học đảm bảo tính vừa sức sẽ kích thích được sự tích cực ở HS, học tập luôn gắn liền với trải nghiệm thực tế và chủ động sẽ giúp HS đạt kết quả tốt nhất.
[8] Trong cuốn “Phương pháp dạy học chuyên ngành môn Tin học”, tác giả Lê Khắc Thành đã đề cập đến các phương pháp dạy học đặc trưng phù hợp với nội dung môn Tin học mà cụ thể là sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal dùng để minh họa cho những lý luận liên quan đến phương pháp dạy học lập trình môn Tin học nói chung cũng như phương pháp dạy học thực hành môn Tin học nói riêng ở nhà trường phổ thông. [16] Nhìn chung, trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Tin học, dạy học thực hành được xem như một phương pháp dạy học tích cực giúp người học nắm vững lý thuyết và phát triển kỹ năng tốt hơn. Đến nay, xu hướng đổi mới chủ yếu vẫn là thay đổi về hình thức tổ chức dạy học; đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá và vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học mới vào QTDH. Tuy nhiên, việc vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học mới này vẫn còn hạn chế ở các giờ học lý thuyết và chưa được phát huy hết ưu điểm trong các giờ học thực hành.
Vì thế, tác giả kế thừa những quan điểm đã có về dạy học thực hành để phát 9 Luan van triển cơ sở lý luận của đề tài. Đề tài hoàn thành sẽ giúp cải tiến quy trình dạy thực hành, từ đó tạo cho học sinh hứng thú hơn, chủ động hơn trong quá trình học tập, nâng cao khả năng vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào thực hành. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Cải tiến Theo từ điển Tiếng Việt (2005), cải tiến là một động từ, nghĩa là “Sửa đổi cho phần nào tiến bộ hơn”.
[15] Vậy, cải tiến nghĩa là làm cho tốt hơn, tiến bộ hơn, phát triển hơn dựa trên cơ sở cái đã có và phù hợp với yêu cầu thực tế. Phương pháp dạy học ❖ Phương pháp Thuật ngữ “Phương pháp” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Methodos” gồm Meta là “sau”, Odos là “con đường”, có nghĩa là con đường dõi theo sau một đối tượng.[13] Theo từ điển Tiếng Việt (2005): Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó. Theo đó, phương pháp là các bước trình tự cần theo để đạt mục đích nhất định, các bước này có mối quan hệ với nhau theo trình tự hợp lý và khoa học. Theo Nguyễn Văn Hộ (2002): Phương pháp là cách thức, là con đường, là phương tiện nhằm giúp con người đạt tới những mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn.
[7] Theo Nguyễn Văn Khôi (2007): Phương pháp là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, quy phạm dùng để chỉ đạo hành động; là tổ hợp các bước đi, là quy trình mà trí tuệ phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân lí; là kế hoạch được tổ chức hợp lý trong quản lý. [9] ❖ Phương pháp dạy học Trong QTDH, phương pháp dạy học là một nhân tố cơ bản quan trọng giúp cho người học tiếp thu được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.