Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong hệ thống Ngân hàng. Chương 3: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG 2.
Lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ 2. Khái niệm Khái niệm KSNB đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức. Quá trình nhận thức và nghiên cứu về KSNB đã được đúc kết thành các khái niệm khác nhau từ đơn giản đến phức tạp. Đến nay, khái niệm KSNB được chấp nhận khá rộng rãi được đưa ra bởi COSO.
COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận trong BCTC (National Commssion on Financial Reporting, hay còn gọi là Treadway Commission), bao gồm đại diện của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội kiểm toán nội bộ (IIA), Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội kế toán quản trị (IMA). Năm 1992 COSO đã phát hành “Báo cáo KSNB - Khuôn khổ hợp nhất”, cho rằng hệ thống KSNB là một quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để tạo ra sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây: Đảm bảo sự tin cậy của BCTC; Đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; Đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả. Khái niệm KSNB được nêu trong Chuẩn mực kiểm toán quốc tế 315 - Hiểu biết tình hình kinh doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu, cơ bản cũng đồng nhất với khái niệm về KSNB trong Báo cáo của COSO năm 1992. Năm 2013, COSO đã phát hành Báo cáo KSNB - Khuôn khổ hợp nhất cập nhật với khái niệm KSNB được bổ sung.
Theo đó, KSNB là một quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên khác của một tổ chức, nó được thiết lập để tạo ra sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ. Theo đó, các mục tiêu hoạt động, 20 mục tiêu tuân thủ cơ bản vẫn giữ nguyên như trước đây, nhưng mục tiêu báo cáo đã được mở rộng hơn, không chỉ đảm bảo độ tin cậy của BCTC mà còn liên 7 quan đến độ tin cậy của các báo cáo phi tài chính và báo cáo nội bộ khác. Theo Luật Kế toán năm 2015 thì KSNB được hiểu là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Trong các khái niệm nêu trên, 04 nội dung cơ bản của KSNB là (i) quá trình, (ii) con người, (iii) đảm bảo hợp lý và (iv) mục tiêu.
Cụ thể: (i) KSNB là một quá trình: KSNB bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong tổ chức và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương tiện giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. Hệ thống KSNB không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định, mà được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong tổ chức. Thuật ngữ “kiểm soát” được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của KSNB.
(ii) KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu.mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, ban giám đốc, các nhân viên khác. Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. (iii) KSNB tạo ra sự bảo đảm hợp lý: KSNB chỉ có thể tạo ra sự đảm bảo hợp lý cho ban Giám đốc và nhà quản lý việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không phải là sự đảm bảo chắc chắn. (iv) Các mục tiêu của KSNB: KSNB giúp một tổ chức đạt được các mục tiêu nhưng không có nghĩa là đảm bảo sự thành công của tổ chức đó.
Tổ chức đặt ra mục tiêu mình cần đạt tới. Vì khi vận hành hệ thống KSNB, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu. KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó.
Do đó, tuy người quản lý có 8 thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục kiểm soát rủi ro. Hệ thống kiểm soát nội bộ 2. Khái niệm Theo Chuẩn mực Kiểm toán về Đánh giá rủi ro và KSNB (ISA 400 trước đây) của IFAC thì Hệ thống KSNB bao gồm toàn bộ các chính sách và thủ tục (các loại hình kiểm soát) được áp dụng bởi nhà quản lý của đơn vị nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã định như: thực hiện hoạt động hiệu quả và tuân thủ pháp luật, bám sát chủ trương mà nhà quản lý đã đặt ra; bảo vệ tài sản; ngăn ngừa và phát hiện gian lận và sai sót; đảm bảo sự đầy đủ và chính xác của các thông tin kế toán; lập BCTC tin cậy, đúng thời hạn. Theo Thông tư số 44/2011/TT-NHNN thì Hệ thống KSNB là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tư này và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.
Khái niệm về hệ thống KSNB một cách chung nhất được Ngô Trí Tuệ (2013) cho rằng Hệ thống KSNB thực chất là hệ thống các chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu cơ bản: Bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động. Các chính sách và thủ tục kiểm soát này do nhà quản lý thiết lập trên cơ sở tuân thủ pháp luật, đồng thời thể hiện tư tưởng, quan điểm và triết lý trong quản lý và điều hành các lĩnh vực hoạt động trong đơn vị. Về thực chất, khái niệm này phản ánh phù hợp với bản chất nghĩa của từ “hệ thống” theo đại từ điển Tiếng Việt, với tư cách là “thể thống nhất bao gồm những tư tưởng, nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách chặt chẽ có logic”. Hơn nữa, nó có tính tổng quát, có thể sử dụng để nghiên cứu hệ thống KSNB ở mọi loại hình đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau như: quản lý nhà nước, hành chính sự nghiệp, kinh doanh.
Mục tiêu Một hệ thống KSNB lập ra gồm 4 mục tiêu: 9 (i) Bảo đảm cho ngân hàng hoạt động tuân thủ pháp luật và các quy định, quy trình nội bộ về quản lý và hoạt động, và các chuẩn mực đạo đức do ngân hàng đặt ra; (ii) Đảm bảo mức độ tin cậy và tính trung thực của các thông tin tài chính và phi tài chính; (iii) Bảo vệ, quản lý và sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế và hiệu quả; (iv) Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu do Ban Lãnh đạo ngân hàng đề ra. Hệ thống KSNB là một quá trình kiểm soát giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. Hệ thống KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, nó không chỉ là đơn thuần về chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà phải bao gồm cả nhân lực của đơn vị đó. Chính con người sẽ lập ra mục tiêu, thiết lập cơ chế vận hành nó.
Một hệ thống KSNB tốt không chỉ được thiết kế tốt mà còn được vận hành tốt. Hệ thống KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối những mục tiêu sẽ đạt được. Vì khi vận hành hệ thống KSNB, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người. Một nguyên tắc cơ bản cho quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát.
Đối với BCTC, KSNB phải đảm bảo về tính trung thực và đáng tin cậy, bởi vì chính người quản lý đơn vị có trách nhiệm lập BCTC phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Đối với tính tuân thủ, KSNB trước hết phải đảm bảo hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định. KSNB cần hướng mọi thành viên vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó đạt được những mục tiêu của đơn vị. Đối với những mục tiêu hiện hữu và hợp lý giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh.
Kiểm soát nội bộ trong ngân hàng theo tiêu chuẩn BASEL 10 Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi các Thống đốc NHTW của nhóm G10, năm 1975. Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng và bản thân NHTW của các nước Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật bản, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Uỷ ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng thanh toán quốc tế tại Washington hoặc tại Thành Phố Basel – Thụy Sỹ. Ban thư ký thường trực của Uỷ ban này cũng có trụ sở làm việc tại Thủ Đô Washington - Hoa Kỳ.
Mục tiêu của kiểm soát nội bộ ngân hàng Theo Ủy ban Basel (1998), KSNB là quá trình được thực hiện bởi HĐQT, Ban điều hành và toàn thể nhân viên.