Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2. Cơ sở lí luận của đề tài 2. Khái niệm Sinh kế là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong phát triển nông thôn. Khái niệm sinh kế được các tổ chức phát triển, học giả, người ra quyết định và những người thực hiện chính sách sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, dự án phát triển, đánh giá tình hình kinh tế xã hội hay tính tổn thương của một vùng, nhóm hộ hay cộng đồng (Trần Thọ Đạt, 2012).
Khái niệm sinh kế được Chambers và Conway (1992) đề cập đến từ những năm 1990 và từ đó khái niệm sinh kế được một số tổ chức phát triển tiếp nhận và đưa vào áp dụng trong thực tiễn. Theo Chambers and Conway (1992), sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho sự sống. Đặc điểm quan trọng của khái niệm sinh kế của Chambers và Conway (1992) là sự tham gia trực tiếp liên kết giữa các loại tài sản và quan điểm nguồn lực của người dân trong thực tế để áp dụng các hoạt động thay thế để tạo các nguồn thu nhập khác nhau đảm bảo kế sinh nhai và sự sống còn của cuộc sống gia đình và cộng đồng của họ. Thuật ngữ năng lực hay khả năng được đề cập trong khái niệm sinh kế của Chambers và Conway (1992) được hiểu là khả năng hay năng lực của cá nhân sử dụng để nhận ra tiềm năng của họ, từ đó có thể tìm ra các hoạt động tạo thu nhập để tồn tại cũng như tìm kiếm và phát triển các kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm cho cuộc sống hiện tại và tương lai.
Theo khái niệm sinh kế của Chambers và Conway (1992), nguồn lực sinh kế bao gồm năm loại chính đó là vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội. Khái niệm sinh kế được hiểu rộng hơn là kế sinh nhai hay là hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội) trong một môi trường dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách. Sinh kế bao gồm khả 5 năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người. Theo DFID (2000), sinh kế là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ.
Theo khái niệm sinh kế của DFID (2000), sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ. Trước nhiều bối cảnh nghiên cứu và áp dụng khác nhau, khái niệm sinh kế được điều chỉnh cho phù hợp với từng bối cảnh cụ thể. Theo từ điển tiếng Việt, sinh kế là việc làm để kiếm sống, mưu sinh. Ở Việt Nam, khái niệm sinh kế mới chỉ xuất hiện trong thời gian gần đây trên cơ sở tiếp thu những khái niệm của các tác giả nước ngoài.
Trên thực tế, các khái niệm: sinh kế, hoạt động mưu sinh, phương cách kiếm sống, hoạt động kinh tế, tập quán mưu sinh được các nhà nghiên cứu sử dụng trong các nghiên cứu của mình khi nghiên cứu về hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế (cá nhân, hộ gia đình…. Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình hay cộng đồng. Khái niệm về sinh kế được sử dụng trong giáo trình này được điều chỉnh chủ yếu từ khái niêm sinh kế của Chambers và Conways (1992). Do vậy, sinh kế trong cuốn sách này được hiểu là khả năng, nguồn lực bao gồm vật chất và phi vật chất, và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của cá nhân, nông hộ và cộng đồng.
Hay hiểu đơn giản hơn sinh kế là những hoạt động hoặc phương tiện kiếm sống nhằm phục vụ nhu cầu cơ bản của cuộc sống và phát triển cá nhân hoặc hộ gia đình hay cộng đồng. Sinh kế có thể được diễn tả như là sự kết hợp của các nguồn tài nguyên được sử dụng và các hoạt động được thực hiện để sống. Các tài nguyên đó có thể bao gồm cả các khả năng và kỹ năng của con người (vốn con người), đất đai, tiền tiết kiệm và trang thiết bị (vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất), và các dịch vụ hỗ trợ chính thức hoặc không chính thức cho các hoạt động (vốn xã hội). Nhờ vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về 6 sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình.
Những thay đổi trong thực trạng tài sản và chiến lược Bối cảnh tổn thương - Sốc và khủng hoảng - Những xu hướng kinh tế xã hội và môi trường - Sự dao động theo thời vụ Vốn con người Kết quả sinh kế - Thu nhập tốt hơn Vốn tự Vốn xã hội nhiên - Đời sống nâng cao CHIẾN LƯỢC SINH KẾ - Khả năng tổn thương giảm Vốn tài chính - An ninh lương thực Vốn vật chất củng cố Thể chế, chính sách - Chính sách và pháp luật - Các cấp chính quyền - Dịch vụ Nhà nước, tư nhân - Luật tục, tập quán - Thể chế cộng đồng Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế Nguồn: theo DFID (2000) Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tàisản cả ở hiện tại lẫn trong tương laimà không gâytổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các thành tố của một sinh kế có mối quan hệ nhân quả và chiến lược sinh kế của con người chịu sự tác động bởi các yếu tố 7 bên ngoài. Điều này được thể hiện trong khung phân tích sinh kế dưới đây (DIFID,. Các nguồn vốn sinh kế Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng.
Trong phạm vi đề tài này, các nguồn vốn về sinh kế gồm: Con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy định.1: Ngũ giác vốn sinh kế Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người. Nói chung, tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến thức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ. Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng và chất lượng của lao động. Số lượng và chất lượng của lao động biến động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe, thể chất và tinh thần, năng lực lãnh đạo, v.
Tài sản con người có thể được diễn giải bằng các chỉ báo về giáo dục, kiến thức bản địa, số lượng lao động, kỹ năng của lao động, tuổi thọ, số trẻ em suy dinh dưỡng… Vốn tự nhiên ám chỉ các nguồn lực tự nhiên mà con người có thể sử dụng cho cuộc sống. Vốn tự nhiên rất đa dạng, có thể hữu hình hay vô hình, hoặc 8 dưới dạng hàng hóa công như khí hậu, sinh quyển làm nền tảng cho sản xuất. Vốn tự nhiên có thể được biểu thị bằng các chỉ báo khác nhau như diện tích đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, độ phì nhiêu của đất đai, khả năng được tưới, khả năng tăng vụ, trữ lượng cá, trữ lượng tài nguyên rừng,… Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và các tài sản vật chất cần thiết cho sinh kế. Cơ sở hạ tầng là hệ thống giao thông thuận tiện, nhà ở tốt và được bảo đảm, điều kiện vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch tốt, sử dụng năng lượng sạch và thuận tiện, dễ dàng tiếp cận thông tin truyền thông bằng các phương tiện máy móc thiết bị.
Ngoài ra hàng hóa vật chất cho sản xuất như công cụ, thiết bị cũng là các chỉ báo quan trọng. Vốn tài chính ám chỉ đến các nguồn lực tài chính mà hộ gia đình có thể tiếp cận và sử dụng để đạt được mục đích sinh kế của họ. Hai nguồn vốn tài chính chủ yếu của hộ gia đình là nguồn lực dự trữ và dòng tiền vốn lưu động. Tiền gửi tiết kiệm, dự trữ tiền mặt, tài sản có tính thanh khoản cao như vàng bạc đá quý, lương hưu, hay các khoản tiền hỗ trợ từ nhà nước, và tiền gửi của người thân từ nơi khác là những chỉ báo phù hợp.
Vốn xã hội chính là các quan hệ hay sự kết nối giữa cá nhân hay hộ gia đình và các tổ chức, các mạng lưới xã hội. Vốn xã hội có thể được chỉ thị bằng các chỉ báo cụ thể như thành viên của các tổ chức, nhóm, mạng lưới, các đặc quyền có được, vị trí xã hội, v. Cách tiếp cận sinh kế ngày nay đã được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu về đặc điểm kinh tế xã hội của hộ. Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ.
Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…). Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi với điều kiền tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo. 9 Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp: - Hoạt động nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, cây ăn quả, chè, rau màu…; Chăn nuôi: Trâu, bò, lợn, gà, vịt…; Lâm nghiệp: rừng, trồng keo, mỡ…. - Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ, buôn bán, làm thuê và ngành nghề khác.