CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP DÂN DOANH Ở VIỆT NAM 1. Khái quát chung doanh nghiệp dân doanh và pháp luật doanh nghiệp dân doanh 1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm doanh nghiệp dân doanh Ở Việt Nam hiện tại việc phân loại các doanh nghiệp cũng được thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau. Một trong các tiêu chí phổ biến thường được sử dụng là hình thức sở hữu vốn.
Theo hình thức sở hữu vốn, có thể phân chia các doanh nghiệp thành bốn loại chính: Doanh nghiệp quốc doanh hay doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh hay doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tập thể. Doanh nghiệp dân doanh (hay còn gọi là doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) là những doanh nghiệp do các cá nhân, tổ chức trong xã hội thành lập. Các các loại hình doanh nghiệp dân doanh được quy định trong luật doanh nghiệp năm 2014, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Khái niệm doanh nghiệp dân doanh Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào, doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất.
Chúng ta có thể đưa ra khái niệm về doanh nghiệp dân doanh như sau: Doanh nghiệp dân doanh hay còn là doanh nghiệp ngoài nhà nước là thuật ngữ dùng để chỉ các loại hình doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam hoặc các tổ chức, cá nhân là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam góp vốn thành lập. Thực chất đây là các loại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo 7 Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2014. Cách gọi này có tác dụng để phân biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước (tức là các doanh nghiệp chủ yếu do các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam bỏ vốn thành lập) với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời cũng để phân biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước nói chung với doanh nghiệp tư nhân vì doanh nghiệp tư nhân chỉ là một loại hình doanh nghiệp dân doanh. Với cách nhìn nhận như trên, doanh nghiệp dân doanh có các đặc điểm pháp lý cơ bản như sau: Thứ nhất, thành viên của các doanh nghiệp dân doanh là các tổ chức, cá nhân – người nước ngoài nhưng phải thường trú ở Việt Nam.
Thứ hai, khi thành lập doanh nghiệp dân doanh, các sáng lập viên được quyền tự quyết định lựa chọn loại hình doanh nghiệp dân doanh, lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh theo quy định của pháp luật. Thứ ba, vốn của doanh nghiệp dân doanh hoàn toàn do các tổ chức hoặc cá nhân đóng góp, không có sự tham gia góp vốn của Nhà nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài. Thứ tư, phần lớn các doanh nghiệp dân doanh có phạm vi và quy mô hoạt động nhỏ hẹp hơn so với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ). Các loại hình doanh nghiệp dân doanh * Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên: Ở Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) được chính thức thừa nhận từ năm 1990 khi Nhà nước ban hành Luật Công ty.
Từ đó đến nay, các quy định về loại hình công ty này đã được hoàn thiện dần qua các lần sửa đổi, bổ sung các đạo luật liên quan. * Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: 8 Luật Công ty năm 1990 chưa quy định loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Loại hình công ty này chỉ xuất hiện từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải là một tổ chức.
Từ năm 2005, luật Doanh nghiệp thống nhất đã cho phép chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức. * Công ty cổ phần: Ở Việt Nam, công ty cổ phần được chính thức thừa nhận từ năm 1990 khi Nhà nước ban hành Luật Công ty. Từ đó cho đến nay, các quy định về loại hình công ty này đã được hoàn thiện dần qua các lần sửa đổi bổ sung các đạo luật liên quan. * Công ty hợp danh: Ở Việt Nam, công ty hợp danh được thừa nhận từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999.
Tuy nhiên, trong đạo luật này các quy định về công ty hợp danh còn rất sơ sài, chỉ bao gồm 4 điều luật, từ Điều 95 đến Điều 98. Nội dung của từng Điều luật cũng chưa chi tiết. Từ năm 2005, Luật Doanh Nghiệp đã quy định đầy đủ hơn và chi tiết hơn về loại hình công ty này. Một trong những sự khác biệt quan trọng giữa hai đạo luật này là Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2005 và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
* Doanh nghiệp tư nhân: Ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp được thừa nhận từ khi có Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990. Từ năm 1999, Luật Doanh nghiệp tư nhân được hợp nhất với Luật Công ty thành Luật Doanh nghiệp. Hiện nay, các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp tư nhân được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014. Nhìn chung qua một số lần sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp, các quy định về doanh nghiệp tư nhân không còn có sự thay 9 đổi nhiều như một số loại doanh nghiệp khác.
Sự thay đổi lớn nhất là việc bãi bỏ quy định về vốn pháp định. Vai trò của doanh nghiệp dân doanh trong nền kinh tế thị trường Qua hơn 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, đã diễn ra quá trình thay đổi to lớn trong việc phát triển doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam. Từ chỗ nền kinh tế dựa chủ yếu vào doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, hiện nay nước ta đã có trên 620.000 doanh nghiệp tư nhân, hơn 20.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Phần lớn doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa, số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chủ yếu là những tập đoàn lớn.
Nghị quyết lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) nhận định: “Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn”. Nhà nước đã có định hướng và chính sách phát triển đối với từng loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp FDI. Việc thực hiện cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai trong hơn hai thập niên, đang ở vào giai đoạn cuối để định hình khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của doanh nghiệp dân doanh thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau: (1) Là lĩnh vực chính thu hút lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp dân doanh tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho người lao động.
Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động khối doanh nghiệp dân doanh góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp. 10 (2) Góp phần quan trọng để tạo ra thành tựu tăng trưởng kinh tế chung, đổi mới bộ mặt kinh tế xã hội Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp dân doanh đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển những năm qua. (3) Doanh nghiệp dân doanh phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân Doanh nghiệp dân doanh phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp dân doanh, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn. (4) Phát triển doanh nghiệp dân doanh góp phần giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp dân doanh tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên, do đó đã góp phần giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội, nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuất khẩu.
Doanh nghiệp dân doanh là một bộ phận quan trọng góp phần tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nguồn thu này tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các hoạt động xã hội công (y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo. (5) Phát triển doanh nghiệp dân doanh giúp tạo môi trường cạnh tranh, nâng cao tính năng động hiệu quả cho nền kinh tế 11 Các doanh nghiệp dân doanh ngày càng phát triển về số lượng và lĩnh vực kinh doanh, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, do đó đã góp phần tạo ra môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao giữa các loại hình doanh nghiệp.