CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN HƯỚNG HÓA 1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân.1 Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập cá nhân được hiểu là tổng số tiền, hàng hoá, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). [15] Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là phần thu nhập còn lại sau khi được giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác. [15] Thuế Thu nhập cá nhân của Việt Nam dần được hoàn hiện theo thời gian.
Từ năm 1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thu nhập cao. Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này. Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn: Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. [14] Thuế TNCN là thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế được sang chủ thể khác.
Sự ra đời và tồn tại của thuế TNCN xuất phát từ các lý do chủ yếu sau; Thứ nhất, yêu cầu đảm bảo sự công bằng về thu nhập trong tiêu dùng hàng hoá công cộng và phân phối thu nhập, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường do sự phân hoá giàu nghèo là điều khó tránh khỏi. Thuế TNCN là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính công bằng trong đóng góp của các cá nhân cho xã hội. Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế”. Theo nguyên tắc “lợi ích” của kinh tế học công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để được hưởng những lợi ích do Nhà nước mang lại, chẳng hạn như hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, trật tự, 6 dịch vụ, hàng hoá công.Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc “công bằng”.
Trong đó, những người có thu nhập như nhau phải nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang), những người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp (công bằng theo chiều dọc). Bên cạnh đó, cần phải xem xét “khả năng nộp thuế” của đối tượng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế vì người dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống tối thiểu. Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập quốc dân. Thứ hai, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng, chức năng của Nhà nước ngày càng mở rộng.
Hơn nữa, tiến trình tự do hoá thương mại làm cho nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu bị sụt giảm. Điều đó đặt ra nhu cầu tăng cường các nguồn thu nội địa để bù đắp thiếu hụt Ngân sách. Thuế thu nhập cá nhân được coi là nguồn thu quan trọng trong tổng thu NSNN. Thứ ba, thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội.
Do tính hữu dụng giảm dần của thu nhập (mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp), để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn. Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, hỗ trợ, ưu đãi. thuế thu nhập có thể có tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của Nhà nước. Thứ tư, thuế TNCN luỹ tiến còn có tác dụng bù lại sự luỹ thoái của các loại thuế tiêu dùng.
Tính chất luỹ thoái của thuế tiêu dùng được thể hiện: người giàu và người nghèo nếu cùng mua một sản phẩm sẽ đều chịu thuế tiêu dùng như nhau. Vì vậy, thuế TNCN được coi là sắc thuế có vai trò rất lớn trong thu NSNN. Tóm lại, Thuế thu nhập cá nhân là: khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách nhà nước. Đây là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế thực nhận của cá nhân trong 1 năm hoặc từng lần phát sinh.
Thuế TNCN không chỉ nhằm mục đích mục đích tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn thực hiện việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư bảo đảm sự công bằng xã hội. Trương Huỳnh Thắng 7 1.2 Nguồn gốc ra đời thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát triển. Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó thuế thu nhập cá nhân đã nhanh chóng được lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (1887), Đức (1899), Mỹ (1913), Pháp(1916), Liên Xô(1922), Trung Quốc(1936)…Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thuế thu nhập cá nhân ra đời trước tiên từ nước có nền kinh tế thị trường. Người lao động có chất lượng cao, có điều kiện trang bị thiết bị hiện đại, có nhiều tài sản, tiền vốn tất yếu sẽ giành được nhiều thu nhập hơn người có ít vốn và làm ăn kém hiệu quả. Trong xã hội phân hóa giàu nghèo cao và chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng nhiều. Thuế thu nhập cá nhân ra đời là một biện pháp cần thiết để điều tiết thu nhập của xã hội, rút ngắn khoảng chênh lệch quá lớn giữa các tầng lớp dân cư.
Ở Việt Nam, Chính sách thuế thu nhập cá nhân với tên gọi là “ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” được ban hành vào 27/12/1990, có hiệu lực thi hành bắt đầu từ 4/1991. Pháp lệnh này đã qua 5 lần sửa dổi, bổ sung vào các năm 1994, 1997, 1999, 2001 2004. Đến năm 2007, sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau gần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việt nam khoá XII đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN). Luật có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009.
Mặc dù còn những ý kiến khác nhau về Luật thuế TNCN, song có thể nói, đây là một văn bản luật được soạn thảo công phu nhất từ trước đến nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân.3 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Thứ nhất, là loại thuế đánh lên tất cả cá nhân có thu nhập chịu thuế. Vì là loại thuế trực thu nên người chịu thuế thường khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác. Cho nên tâm lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện 8 nghĩa vụ thuế này so với các loại thuế gián thu. Cần lưu ý là vai trò của người chi trả thu nhập khác với vai trò của người chịu thuế.
Người chi trả thu nhập theo quy định của pháp luật là phải khấu trừ số thuế mà cá nhân có nghĩa vụ nộp cho nhà nước trước khi chi trả thu nhập. Thứ hai, Nhà nước có thể sử dụng lọai thuế này để khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi thông qua biểu thuế. Ví dụ như nhà nước có thể khuyến khích người lao động làm thêm giờ, tăng thu nhập bằng cách đánh thuế nhẹ hoặc không đánh thuế lên khoản thu nhập tăng thêm do làm thêm giờ hoặc có thể khuyến khích nghỉ ngơi bằng cách đánh thuế nặng lên khoản thu nhập này. Nhà nước cũng có thể khuyến khích người dân đầu tư hay không đầu tư, tiết kiệm hay không tiết kiệm thông qua việc đánh thuế hay không đánh thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiết kiệm.
[13] Thứ ba, thuế thu nhập cá nhân là một lọai thuế phức tạp. Việc quản lý thuế, thu thuế đòi hỏi trình độ, kỹ thuật cao, chi phí quản lý thuế lớn. Cơ quan quản lý thuế phải nắm được các nguồn thu nhập của người chịu thuế, tình trạng cư trú của họ ở Việt Nam. [13] Thứ tư, thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay nước ngoài.
Chính vì vậy khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế TNCN rất cao. Thứ năm, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ. Thuế thu nhập cá nhân không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ. Thứ sáu, Thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần do được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội.
Thứ bảy, Thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN.