phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, sơ đồ và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: 12 Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế thu nhập cá nhân Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập các nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các Doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện các mục tiêu và đạt đƣợc những ý nghĩa đã nêu trên, cần có nguồn thông tin thiết thực liên quan và sự tiến hành nghiên cứu một cách khoa học. Do đó tác giả đã tích cực tìm hiểu, tiến hành thu thập thông tin, tham khảo các công trình, luận văn khoa học có nội dung tƣơng tự đã đƣợc công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn: [5] Dƣơng Thị Nguyên (2011), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân.
Đối với đề tài này, trong chƣơng 1 tác giả đã hệ thống hóa đƣợc các vấn đề lý thuyết cơ bản về công tác quản lý thuế TNCN, nêu ra đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế TNCN. Đề tài đã đánh giá thực trạng của công tác quản lý thuế TNCN của nƣớc ta trong việc ban hành chính sách thuế, Công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế, xử lý các trƣờng hợp vi phạm về kê khai nộp thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế. Từ thực trạng trên đề tài đã cho thấy đƣợc những thành tựu, hạn chế trong công tác quản lý thuế TNCN ở Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2010 và chỉ ra năm nguyên nhân cơ bản là: hệ thống pháp luật chƣa hoàn thiện; nhân lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thuế còn thiếu, hạn chế; quá trình thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt nên khó kiểm soát nguồn thu nhập thực tế; bất cập trong chế độ kê khai thuế,nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế và cấp mã số 13 thuế; ý thức của ngƣời dân về thuế TNCN còn thấp. Đề tài cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế trên địa bàn nhƣ: đầu tƣ cơ sở hạ tầng, tin học hoá công tác quản lý thu thuế.
Cục Thuế Hà Nội cần phải đƣợc hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thu thuế TNCN, trang bị máy tính nối mạng toàn quốc; xác định mức khởi điểm chịu thuế và nới rộng bậc thuế. Vấn đề tính toán và xác định lại mức khởi điểm chịu thuế TNCN cần phải dựa trên mức lƣơng tối thiểu; nâng cao hiệu quả tổ chức bộ máy quản lý; nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ ngành thuế. Để công tác quản lý thu thuế đƣợc thực hiện tốt thì con ngƣời luôn là trung tâm, là yếu tố quan trọng nhất. Nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ thuế sẽ có tác động tích cực tới toàn bộ công tác quản lý thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế; tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra đối tƣợng nộp thuế thu nhập cá nhân.
Cục Thuế Hà Nội phải tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra việc kê khai, nộp thuế của các đối tƣợng nộp thuế để phát hiện kịp thời xử lý nghiêm minh những hành vi gian lận, trốn thuế, tăng cƣờng đôn đốc thu nợ và cƣỡng chế nợ thuế. [6] Đỗ Thị Hồng Phƣơng (2012), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong phần cơ sở lý luận tác giả đã hệ thống một cách đầy đủ các vấn đề cơ bản nhƣ đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân; nội dung cơ bản của thuế thu nhập cá nhân về đối tƣợng nộp thuế, đối tƣợng tính thuế, kỳ tính thuế, căn cứ tính thuế, giảm thuế. Tiếp đó, tác giả đi tìm hiểu về mục tiêu và nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân, đƣa ra những nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Tác giả cũng nêu lên đƣợc kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân ở một số nƣớc trên thế giới và bài học 14 kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam. Trên cơ sở lý luận đó, tác giả đã đi sâu vào phân tích thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian từ 2009 đến năm 2011. Qua việc phân tích thực trạng, tác giả đã đánh giá đƣợc những thành công cũng nhƣ tìm ra đƣợc nguyên nhân của các hạn chế trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn. Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng với bốn nhóm giải pháp chính là: giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực; giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ, giải pháp về mặt pháp lý.
Đây là đề tài có nội dung khá sát với các vấn đề mà học viên sẽ nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Do đó, một số nội dung về cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân là rất hữu ích để học viên tham khảo nhằm xây dựng nên cơ sở lý luận phù hợp với thực trạng của địa bàn đƣợc nghiên cứu. [8] Trần Công Thành (2013), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Trong luận văn này, tác giả cũng trình bày những vấn đề lý luận cơ bản nhất về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng nhƣ các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Trà Vinh trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, tác giả cũng đã chỉ ra đƣợc những hạn chế còn tồn tại ở địa phƣơng, có thể kể đến nhƣ: một số quy định chính sách chƣa thực sự rõ ràng, một số thủ tục còn phức tạp,. nhƣng việc sửa đổi không kịp thời gây khó khăn trong thực hiện; khó kiểm soát đƣợc thu nhập tính thuế của cá nhân để đƣa vào diện thu thuế do tình trạng thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến; đội ngũ cán bộ quản lý thuế của tỉnh còn hạn chế cả về số lƣợng lẫn trình độ chuyên môn, không thƣờng xuyên cập nhật thông tin mới về về 15 sự thay đổi chính sách thuế,.Qua việc phân tích thực trạng thì tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, những giải pháp này có ý nghĩa trong thời gian 5 năm tính từ năm 2012. Các giải pháp này có tính thực tiễn và có khả năng áp dụng vào thực tế phù hợp với chiến lƣợc phát triển của tỉnh trong thời gian tới. [9] Nguyễn Thị Thanh Thủy (2010), “Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm trên thế giới và việc triển khai thực hiện tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế phát triển, số 07/2010, trang 10-13.
Bài báo này nêu lên những kinh nghiệm về công tác triển khai thuế thu nhập cá nhân ở một số nƣớc nhƣ Nhật Bản, Đài Loan, Anh. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra một số kiến nghị cho công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Viêt Nam, bao gồm: tiếp tục công tác tuyên truyền và giải thích pháp luật cá nhân đến từng ngƣời dân - đối tƣợng nộp thuế; nâng cao vai trò của ủy ban nhân dân cấp xã, phƣờng trong hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân; xây dựng hệ thống thông tin về đối tƣợng nộp thuế; thiết kế mẫu tờ khai thuế thu nhập cá nhân thống nhất; phối hợp giữa cơ quan thuế và công an – tạo sức mạnh tổng hợp phòng chống tội phạm gian lận thuế. 16 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN đã có lịch sử hàng trăm năm và hiện nay đã trở thành loại thuế phổ biến trên thế giới. Có thể nói đối với hầu hết các quốc gia Thuế TNCN đƣợc xem nhƣ là "vua" của các loại thuế. Không chỉ bởi nguồn thu khổng lồ của nó trong tổng ngân sách để phục vụ cho việc vận hành bộ máy hành chính nhà nƣớc, đảm bảo an ninh quốc gia, chính sách xã hội mà sự rađời của sắc thuế TNCN còn góp phần quan trọng trong việc điều tiết phân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thể của NNT. Cho đến nay trên khắp thế giới đã có khoảng 180 nƣớc áp dụng Thuế TNCN.
Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng Thuế TNCN là Hà Lan năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808. Mỹ bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm 1864. Các nƣớc Châu Âu nhƣ Úc, Niu Dilân, và NhậtBản áp dụng các loại thuế thu nhập thƣờng xuyên vào nửa cuốiThế kỷ 19. Tại các nƣớc Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippine năm1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984; các nƣớc Đông Âu mới áp dụng nhƣ Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992.
Ở Việt Nam thuế TNCN chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một sốnƣớc áp dụng luật thuế TNCN thƣờng chọn đánh thuế vào những đối tƣợng dễ đo lƣờng đƣợc nhƣ đất đai, tài sản, hàng hóa hữu hình. Tuy nhiên cho đếnnay sau nhiềulần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọng 17 trong Luật thuế TNCN đã có nhiềubiếnđổi. Có thể nói khác với các loại thuếkhác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tƣ gián tiếp nhƣ mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu.