CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUỸ HỖ TRỢ NÔNG DÂN 1. Tổng quan về Quỹ hỗ trợ nông dân 1. Khái niệm về Quỹ hỗ trợ nông dân Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc HND Việt Nam được thành lập trên cơ sở Văn bản số 4035/KTTH ngày 26/7/1995 và Quyết định số 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Quỹ HTND chịu sự chỉ đạo, quản lý của Ban Thường vụ Trung ương HND Việt Nam.
Do đó “Quỹ HTND được quan niệm là quỹ tài chính ngoài ngân sách do Trung ương HND Việt Nam thành lập, tổ chức và quản lý trên cơ sở các quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Mục đích của Quỹ hỗ trợ nông dân Quỹ HTND hình thành với mục đích “hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế nhằm xóa đói giảm nghèo; nâng cao quy mô sản xuất và sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn; tạo việc làm, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng. Tạo điều kiện để HND các cấp đẩy mạnh hoạt động, tuyên truyền, tập hợp nông dân, thực hiện thắng lợi các chương trình phát triển kinh tế. nâng cao đời sống nông dân và xây dựng Hội vững mạnh”.
Nguyên tắc hoạt động của Quỹ hỗ trợ nông dân “Quỹ HTND hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải bảo toàn, phát triển vốn và bù đắp chi phí quản lý. Chịu trách nhiệm về hoạt động của Quỹ trước pháp luật. Nội dung hoạt động của Quỹ hỗ trợ nông dân Quỹ HTND hoạt động như một Quỹ tín dụng gồm huy động vốn, cho vay vốn, bảo toàn vốn … Nhưng “Quỹ HTND không được huy động vốn và 5 vay vốn dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá hoặc vay vốn của các tổ chức, cá nhân như hoạt động của các tổ chức tín dụng”.[8, tr 4] “Việc cho vay vốn của Quỹ HTND được thực hiện theo phương thức cho vay có hoàn trả ., không thu lãi nhưng có thu phí. Không sử dụng nguồn vốn hoạt động để thực hiện các mục đích kinh doanh tiền tệ”.
[8, tr 4] Việc cho vay vốn Quỹ HTND dựa trên tín chấp, uy tín của các hộ hội viên nông dân, không bắt buộc phải thế chấp tài sản. Một số vấn đề lý luận về quản lý và quản lý Quỹ hỗ trợ nông dân 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, mục tiêu quản lý 1. Khái niệm về quản lý Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú, tính muôn hình muôn vẻ của các sự vật, hiện tượng trong KTXH và trong quản lý nên khi tiếp cận ở mỗi góc độ, khái niệm về quản lý cũng khác nhau.
Mary Parker Follett định nghĩa: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác” [5, tr 7]. Dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Lý thuyết về quản lý hành chính - tổ chức của Henrry Fayol cho rằng: “Quản lý hành chính bao gồm các chức năng: dự đoán - lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra” [17, tr 14]. Ở góc độ tổ chức: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của thị trường, được chia làm 03 dạng: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật, quản lý xã hội loài người” [17, tr 4].
Từ những khái niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Đặc điểm của quản lý “Quản lý là một khoa học: Tính khoa học của quản lý xuất phát từ tính quy luật của các quan hệ quản lý trong quá trình hoạt động của tổ chức bao gồm những quy luật kinh tế, khoa học - công nghệ, quy luật tự nhiên, xã hội… đòi hỏi các nhà quản lý phải biết vận dụng các phương pháp đo lường, định hướng hiện đại, những thành tựu tiến bộ của khoa học công nghệ như phương pháp dự báo, phương pháp tâm lý .[17, tr 3] “Quản lý là một nghệ thuật: Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú, tính muôn hình muôn vẻ của các sự vật, hiện tượng trong KTXH và trong quản lý. tác động tới con người với những nhu cầu đa dạng, phong phú, với những toan tính tâm tư tình cảm mà khó có thể cân, đo, đong đếm được”.
Chức năng của quản lý “Chức năng quản lý mỗi loại công việc khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hóa hoạt động quản lý. Quá trình quản lý được tiến hành theo 04 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo và kiểm tra chung cho mọi nhà quản lý” [17, tr 36]. Lập kế hoạch: “Là quá trình bao gồm việc xác định mục tiêu, thiết lập chiến lược và quyết định phương án hành động để đạt được mục tiêu đã đặt ra”. [15, tr 15] Tổ chức: “Là quá trình thiết kế công việc, xác định những nhiệm vụ công việc cần phải thực hiện, nhóm những công việc thành những bộ phận, phân công người thực hiện những nhiệm vụ công việc đó, thiết lập mối quan hệ báo cáo quyền lực giữa công việc với các bộ phận.
7 Lãnh đạo: “Là quá trình chỉ đạo, hướng dẫn,tạo động cơ làm việc cho các thành viên trong tổ chức, khuyến khích phối hợp làm việc, lựa chọn các kênh giao tiếp hiệu quả nhất và giải quyết xung đột. Kiểm tra: “Là quá trình quản lý, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức, hướng dẫn các thành viên trong tổ chức thực hiện đúng mục tiêu đề ra” [15, tr 16]. Vai trò của quản lý “Quản lý là một dạng lao động đặc biệt: Chính từ sự phân công chuyên môn hóa, hợp tác hóa lao động đã làm xuất hiện dạng lao động đặc biệt, đó là lao động quản lý. [17, tr 37] “Quản lý có tính định hướng: Giúp các tổ chức và các thành viên của tổ chức thấy rõ mục tiêu và hướng đi của mình.
Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất đối với con người và tổ chức, giúp tổ chức thực hiện sứ mệnh của mình .” [17, tr 37] “Quản lý có vai trò phối hợp giữa các nguồn lực: Trong hoạt động của tổ chức có 04 yếu tố tạo thành kết quả, đó là nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin. Quản lý sẽ phối hợp các nguồn lực thành một chỉnh thể, tạo nên “tính trồi” để thực hiện mục đích của tổ chức là đạt giá trị gia tăng cao nhất”.[17, tr 37] “Quản lý giúp tổ chức thích nghi với môi trường: Điều kiện môi trường mà tổ chức gặp phải luôn biến đổi nhanh. tạo ra các cơ hội, nguy cơ bất ngờ. Quản lý giúp tổ chức thích nghi, nắm bắt tốt hơn các cơ hội, giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực của nguy cơ liên quan đến môi trường .” [17, tr 37] “Quản lý là một nhân tố không thể thiếu trong mọi tổ chức: Quản lý cần thiết với mọi hoạt động trong xã hội, từ một đơn vị SXKD đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ một gia đình đến cả quốc gia.
Khái niệm, nội dung quản lý Quỹ hỗ trợ nông dân 1. Khái niệm về quản lý Quỹ HTND Từ những khái niệm về quản lý dưới nhiều góc độ khác nhau có thể hiểu: Quản lý Quỹ HTND là sự tác động của chủ thể quản lý Quỹ HTND lên 8 đối tượng quản lý Quỹ HTND trong quá trình thực hiện các hoạt động của Quỹ nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. - Chủ thể quản lý Quỹ HTND là cơ quan HND, trực tiếp là Ban điều hành Quỹ HTND. - Đối tượng quản lý Quỹ HTND là Ban điều hành Quỹ HTND cấp dưới, cán bộ ban điều hành Quỹ HTND, người vay vốn từ Quỹ HTND,.
“Ban điều hành Quỹ HTND cấp nào do Ban Thường vụ HND cấp đó quyết định thành lập và bổ nhiệm các chức danh trên cơ sở tổ chức bộ máy và biên chế được giao. Cơ cấu tổ chức của Ban điều hành Quỹ HTND ở mỗi cấp gồm: Giám đốc, các Phó giám đốc, kế toán trưởng và bộ phận hoặc cán bộ chuyên môn giúp việc .”[8 tr 12] - Ban điều hành Quỹ HTND có nhiệm vụ: + “Thực hiện việc tiếp nhận nguồn vốn NSNN, NSĐP giao; huy động vốn đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước với các hình thức ủng hộ, cho mượn không lãi hoặc lãi suất thấp. + Tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn tài trợ, viện trợ hoặc vốn được ủy thác từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để phục vụ cho các hoạt động xây dựng và nhân rộng các mô hình hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và ổn định cuộc sống. + Tiến hành thẩm định, tái thẩm định hồ sơ đề nghị vay vốn của người vay và thực hiện cho vay, thu nợ theo quy định.
+ Quản lý nguồn vốn và tài sản của Quỹ HTND theo quy định của pháp luật. + Thực hiện các dịch vụ chuyển tải vốn, dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ hỗ trợ vốn khác do Ban Thường vụ HND cấp quản lý giao. + Có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị và cá nhân tổ chức các hoạt động tập huấn, chuyển giao khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, tham quan trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước giúp người vay sử dụng vốn đúng mục đích, đạt hiệu quả cao. 9 + Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý điều hành cho đội ngũ cán bộ tham gia công tác quản lý, điều hành Quỹ HTND.
+ Chấp hành đầy đủ chế độ thông tin, thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật và của Hội. + Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định. [8 tr 12-13] - Quyền hạn của Ban điều hành Quỹ HTND: + “Được tổ chức vận động, quản lý và sử dụng các nguồn vốn theo quy định của Nhà nước và Điều lệ Quỹ HTND quy định.