Chương 1: Lý luận chung về quản lý phí, lệ phí thuộc NSNN Chương 2: Thực trạng về quản lý và sử dụng nguồn thu phí và lệ phí tại Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng. Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng nguồn thu phí, lệ phí tại Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ PHÍ VÀ LỆ PHÍ THUỘC NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Lý luận chung về phí và lệ phí 1.
Khái niệm phí, lệ phí Bất cứ một quốc gia nào cũng đều chú trọng đến nguồn thu Ngân sách nhà nước để phục vụ cho các nhiệm vụ chi của mỗi quốc gia đó. Theo điều 2 luật Ngân sách Nhà nước năm 2003 đã ghi:” Thu Ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của tổ chức cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy, thu từ thuế phí lệ phí là nhóm thu quan trọng hàng đầu của Ngân sách Nhà nước. Trong tổng nguồn thu Ngân sách nhà nước, phí và lệ phí chỉ chiếm khoảng 5% nhưng lại giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế và công bằng xã hội.
Vậy phí và lệ phí là gì? Theo điều 3 Pháp luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội ngày 25/11/2015, định nghĩa về phí và lệ phí được đưa ra như sau [8]: Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này. Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này. Đối tượng áp dụng Luật phí, lệ phí quy định như sau: Luật này áp dụng đối với cơ quan nhà nước (bao gồm cả cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài), đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức, cá nhân liên quan đến thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí. 6 Điểm mới trong Luật phí, lệ phí là về danh mục phí, lệ phí.
Theo đó, để khuyến khích xã hội hóa, một số khoản phí trong danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí được chuyển sang cơ chế giá. Trong đó, một số dịch vụ mặc dù đã chuyển sang cơ chế giá nhưng nhà nước vẫn cần quản lý giá. Như vậy, theo quy định danh mục phí, lệ phí được ban hành kèm theo luật này sẽ bao gồm 213 khoản phí, 103 khoản lệ phí và 17 dịch vụ chuyển từ phí sang giá dịch vụ do nhà nước định giá. Điểm mới nữa trong luật này là những quy định về miễn, giảm phí, lệ phí.
Theo đó, các trường hợp thuộc diện miễn, giảm phí, lệ phí gồm: trẻ em, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn theo quy định pháp luật và một số trường hợp đặc biệt khác. Đồng thời để tăng cường phân cấp quản lý phí, lệ phí Luật Phí, lệ phí đã bổ sung thêm về thẩm quyền miễn, giảm phí, lệ phí như sau: Chính phủ quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm đối với từng loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền. Bộ Tài chính và HĐND cấp tỉnh quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm đối với từng loại phí, lệ phí được phân cấp trong danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo luật này. Điểm mới cuối là về nội dung quản lý, sử dụng phí, lệ phí đã được cụ thể hóa trong luật và đảm bảo thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi.
Cụ thể, luật quy định rõ: Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện phải nộp vào ngân sách nhà nước; trường hợp cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện, được để lại một phần hoặc toàn bộ số tiền phí thu được để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí; phần còn lại nộp ngân sách nhà nước theo quy định sau: Số tiền phí được để lại cho tổ chức thu để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí. Căn cứ tính chất, đặc điểm của từng loại phí cơ quan có thẩm quyền quyết định mức để lại cho tổ chức thu phí. Số tiền phí để 7 lại được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật; hàng năm phải quyết toán thu, chi.
Số tiền phí chưa chi trong năm được chuyển sang năm sau để tiếp tục chi theo chế độ quy định. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do tổ chức được cơ quan có thẩm quyền giao thực hiện được để lại một phần hoặc toàn bộ số tiền phí thu được để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí; phần còn lại nộp ngân sách nhà nước; việc quản lý và sử dụng phí thu theo quy định của pháp luật. Ngoài những nội dung nêu trên, luật còn quy định cụ thể về quyền, trách nhiệm của tổ chức thu phí, lệ phí, người nộp phí, lệ phí và của các cơ quan nhà nước về quản lý phí, lệ phí. Như vậy, “thu phí của Nhà nước thực chất là Nhà nước thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng hữu hình cho xã hội, đồng thời cũng là các khoản chi phí mà người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ công cộng đó.” Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động một số cơ quan, bộ máy Nhà nước còn cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý cụ thể cho dân chúng.
Người dân khi thụ hưởng các dịch vụ công cộng này phải trả một phần chi phí do các cơ quan của bộ máy Nhà nước đã cung cấp gọi là lệ phí. Đây không phải là giá của dịch vụ mà khoản thu này chủ yếu phục vụ cho yêu cầu quản lý của Nhà nước.Về phía người nộp, do nhận được một dịch vụ hành chính, pháp lý nào đó từ phía Nhà nước, nên phải có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước một khoản tiền. Cũng có nghĩa là phần nào thể hiện sự công bằng theo nguyên tắc “ai hưởng lợi thì phải trả tiền”. Khoản tiền này chính là khoản lệ phí.
Lệ phí thường là những khoản thu nhỏ lẻ, rải rác, chủ yếu sinh ra ở các cơ quan chính quyền Nhà nước địa phương. Do đó ta có thể nhận định rằng: “lệ phí là khoản thu phát sinh ở các cơ quan chính quyền Nhà nước địa phương”. Vì thế, ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển người ta gọi lệ phí là các khoản thuế của Nhà nước địa phương. 8 Từ khái niệm phí và lệ phí nói trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm về phí, lệ phí như sau: Phí lệ phí cũng là các khoản thu mang tính chất bắt buộc của Ngân sách nhà nước nhưng khác với thuế, phí và lệ phí là khoản mang tính chất hoàn trả là chủ yếu.
Phân loại các khoản phí, lệ phí * Phân loại các khoản phí - Căn cứ vào chủ thể thu phí, có hai loại phí: Phí Nhà nước và phí tư nhân +Phí Nhà nước: là các loại phí do Nhà nước hoặc các cơ quan, đơn vị của Nhà nước trực tiếp thu. Đây là những khoản phí phát sinh do những người nộp là những người hưởng thụ các dịch vụ công cộng của Nhà nước cung cấp. Có nhiều loại phí chủ thể thu phí là Nhà nước như: Phí giao thông, phí thuỷ lợi, phí bệnh viện Nhà nước. +Phí tư nhân: là các khoản phí do tư nhân thu.
Đây là những khoản phí phát sinh do những người được hưởng các dịch vụ do tư nhân đầu tư cung cấp. Phí tư nhân có nhiều loại như: Phí sửa chữa xe ô tô, xe máy,.Tuy nhiên cũng có một số các loại phí tư nhân từ dịch vụ công cộng như: học phí trường tư, bệnh viện tư. - Căn cứ vào mức độ nộp các khoản phí vào ngân sách Nhà nước +Phí được tập trung toàn bộ vào Ngân sách Nhà nước: Các loại phí này, toàn bộ số thu phải nộp hết vào Ngân sách Nhà nước.Các đơn vị trực tiếp thu không được giữ lại số phí thu được để sử dụng. Các loại này thường do Chính phủ trực tiếp ban hành và quản lý, mang tính chất quan trọng liên quan đến lợi ích quốc gia như: phí giao thông qua giá xăng, phí cầu đường, phí bảo vệ môi trường.
+Phí một phần cho Ngân sách nhà nước: Các đơn vị trực tiếp cung ứng dịch vụ và trực tiếp thu phí được phép để lại một phần số thu được theo chế độ quy định phần còn lại nộp vào Ngân sách nhà nước. Các loại phí này thường phát sinh ở các đơn vị sự nghiệp có thu như. Bên cạnh đó, các khoản phí nộp 9 một phần cho Ngân sách nhà nước còn được thực hiện qua cơ chế khoán hay đấu thầu như: phí trông giữ xe đạp, phí bến bãi… +Phí để lại toàn bộ cho đơn vị sử dụng: Là các loại phí phát sinh thường xuyên, các đơn vị sẽ được để lại để sử dụng toàn bộ bổ sung vào nguồn kinh phí do Nhà nước cấp nhằm cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao chất lượng hoạt động như: học phí, viện phí. - Phân loại theo tính chất phát sinh các khoản thu +Các khoản thu phí trong hoạt động y tế như: viện phí.
+Các khản thu phí trong hoạt động thể dục thể thao, phát thanh truyền hình +Các khoản thu phí về hoạt động của ngành giao thông như: phí cầu đường, phí cấp bằng lái, phí kiểm định. *Phân loại các khoản lệ phí - Phân loại lệ phí theo các cấp quản lý của bộ máy Nhà nước +Lệ phí của chính quyền Nhà nước trung ương: Là những loại lệ phí do TW quản lý thu gắn với các hoạt động có tính quốc gia, như lệ phí hải quan, lệ phí cấp hộ chiếu, .