CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TCDN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Từ cuối thế kỷ IXX, đầu thế kỷ XX, khi mà nền kinh tế thị trường phát triển thì công tác phân tích tài chính được quan tâm và ngày càng phát triển. Theo thời gian, nhu cầu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng dẫn đến công tác phân tích tài chính ngày càng được đánh giá cao về vai trò của nó.
Đặc biệt trong thời gian gần đây, với sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh, sự phát triển của hệ thống tài chính và sự phát triển của công nghệ thông tin thì công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp thật sự được chú trọng. Mỗi nhà kinh tế khi nghiên cứu về phân tích tài chính doanh nghiệp thường có một khái niệm và cách tiếp cận khác nhau. Song theo cách hiểu chung nhất, phân tích tài chính là việc sử dụng các phương pháp phù hợp để thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin kinh tế khác có liên quan nhằm đưa ra các thông tin tài chính, trên cơ sở đó có thể đánh giá, nhận xét, kết luận về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp cũng như rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó để giúp cho các đối tượng quan tâm có thể đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp. Vai trò của công tác phân tích TCDN.
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, khách hàng, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các nhà cung cấp, người lao động, các cơ quan quản lý Nhà nước. Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính trên một giác độ khác nhau nhưng nhìn chung đều quan tâm đến khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng 5 z sinh lời, khả năng thanh toán, hạn chế mức độ rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp. Để có được những thông tin đó, các đối tượng nói trên đều cần phải dựa vào công tác phân tích tài chính. Bởi vì công tác phân tích tài chính cung cấp đầy đủ các thông tin cả khái quát và chi tiết về tình hình tài chính của doanh nghiệp mà các đối tượng quan tâm cần biết.
Cụ thể như sau: Chủ doanh nghiệp có được các thông tin về tài sản, nguồn vốn, công nợ, hiệu quả của sản xuất kinh doanh và triển vọng phát triển của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó xác định được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Từ đó dự báo tình hình tài chính, đề ra kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát công tác quản lý doanh nghiệp. Các nhà đầu tư có được những thông tin về thu nhập của chủ sở hữu, khả năng sinh lãi của doanh nghiệp.
Từ đó các nhà đầu tư sẽ đi đến quyết định có đầu tư vào doanh nghiệp hay không? Các tổ chức tín dụng, các nhà cung cấp sẽ nhận được các thông tin về khả năng vay và trả nợ. Đó là cơ sở để ra quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không, có cung cấp hàng cho doanh nghiệp hay không và nếu có thì phương thức bán hàng nào là phù hợp. Các cơ quan quản lý Nhà nước thông qua công tác phân tích tài chính sẽ có được các thông tin về tình hình chấp hành các chính sách, chế độ, thể lệ về tài chính, kế toán ; đốc thúc việc thu nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước. Như vậy, công tác phân tích tài chính doanh nghiệp có một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nó chính là cơ sở để dự đoán tài chính, cụ thể là dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng trong tương lai của doanh nghiệp. QUY TRÌNH, THÔNG TIN VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP. 6 z Như trên đã trình bày, công tác phân tích tài chính giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Do đó khi tiến hành công tác này nhất thiết phải tuân thủ theo trình tự nhất định.
Có như vậy thì công việc phân tích tài chính mới thực sự cho những kết quả đáng tin cậy, đáp ứng được các mục tiêu chủ yếu của công tác phân tích tài chính. Quy trình công tác phân tích tài chính. Thu thập thông tin. Đây là bước đầu tiên của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
Các thông tin bao gồm thông tin bên trong doanh nghiệp và thông tin bên ngoài ; những thông tin giá trị và thông tin số lượng ; thông tin kế toán và thông tin quản lý khác. Các nguồn thông tin này phải có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong các nguồn thông tin đó thì nguồn thông tin từ các báo cáo tài chính là quan trọng nhất. Nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính bao gồm nguồn thông tin từ nội bộ doanh nghiệp và thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp.
Trong đó, nguồn thông tin kế toán được lấy từ các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp là nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Các báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán. Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó[14]. Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp.
Thông thường, bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư của các tài khoản kế toán: một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp. Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Đó là tài sản cố định, tài sản lưu động. Bên nguồn vốn của bảng cân đối kế toán phản 7 z ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp tính đến thời điểm lập báo cáo.
Đó là vốn sở hữu và các khoản nợ.[15] Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống. Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản ; bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp.[19] Ngoài các khoản mục nội bảng thì bảng cân đối kế toán còn chứa một số khoản mục ngoại bảng như: tài sản thuê ngoài, hàng hoá giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, nguồn khấu hao cơ bản hiện có, ngoại tệ các loại. Cụ thể, bảng cân đối kế toán có thể được mô tả theo sơ đồ khái quát như sau: Tài sản Nguồn vốn Tài sản lưu động Nợ phải trả - Vốn bằng tiền & đầu tư ngắn hạn - Nợ ngắn hạn - Phải thu khách hàng - Nợ dài hạn - Tồn kho + tạm ứng + TSLĐ khác - Nợ khác Tài sản cố định Vốn chủ sở hữu - TSCĐ hữu hình - Vốn kinh doanh - TSCĐ vô hình - Các quỹ - Đầu tư dài hạn - Lãi chưa phân phối Nhìn vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.
8 z Báo cáo kết quả SXKD. Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh. Khác với Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả SXKD cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp trong những thời kỳ nhất định[12].
Đó là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động theo từng loại hoạt động kinh doanh (sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, hoạt động khác). Ngoài ra, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước cũng như là tình hình thực hiện sắc thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp trong thời kì đó. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh được chia thành ba phần bao gồm: Phần I: Lãi lỗ (phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh) ; Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm, thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa. Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên phần 1 của báo cáo kết quả SXKD bao gồm: doanh thu từ hoạt động SXKD, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động khác và chi phí tương ứng với từng hoạt động đó.
Những loại thuế như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất, không phải là doanh thu và không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không được phản ánh trên báo cáo này. Toàn bộ các khoản thuế đối với doanh nghiệp và các khoản phải nộp khác được phản ánh trong phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Phần III của Báo cáo là Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm, thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
9 z Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thường được xác định cho thời hạn ngắn (thường là từng tháng)[19]. Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ (thu ngân quỹ) bao gồm: dòng tiền nhập quỹ từ công tác kinh doanh (từ bán hàng hoá hoặc dịch vụ) ; dòng tiền nhập quỹ từ công tác đầu tư, tài chính ; dòng tiền nhập quỹ từ công tác khác.