CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT VỐN ĐẦU TƯ THUỘC NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 1. Một số khái niệm - Ngân sách nhà nước: Theo quy định tại Khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 của Việt Nam: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. [7] Hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm 2 cấp: Trung ương và địa phương.
Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương có mối quan hệ mang tính độc lập tương đối và tính phụ thuộc. Tính độc lập tương đối thể hiện ở nguyên tắc phân cấp quản lý giữa các cấp ngân sách, cho phép mỗi cấp ngân sách có quyền quyết định ngân sách của mình về nguồn thu và nhiệm vụ chi. Tính phụ thuộc thông qua việc bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và mối quan hệ có tính lồng ghép, phân chia theo tỷ lệ giữa các cấp ngân sách ở địa phương để bảo đảm cân đối thu chi ngân sách và thực hiện được nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội địa phương, đồng thời tạo động lực thúc đẩy các địa phương cùng phát triển đồng đều. Quản lý NSNN có một số nguyên tắc chung là: quản lý thống nhất, hiệu quả, tiết kiệm, tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch; trong đó, ngân sách trung ương là cấp ngân sách có vai trò chủ đạo, là nguồn tài chính bảo đảm các nhiệm vụ chi của quốc gia, điều hòa, hỗ trợ địa phương tạo ra sự ổn định, bền vững và tăng tính hiệu quả của ngân sách nhà nước.
Nguồn thu chủ yếu của NSNN là thuế. Để đảm bảo thực hiện những chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước, bằng những nguyên tắc nhất định Nhà nước thực hiện việc phân phối các nguồn tài chính từ quỹ NSNN 6 được gọi là chi ngân sách nhà nước. Các nội dung trong chi ngân sách nhà nước rất đa dạng, phong phú và được phân loại chi theo nhiều tiêu thức khác nhau, ví dụ như chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi viện trợ. - Vốn đầu tư: Vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như tiền và toàn bộ giá trị vật chất được đưa vào để tiến hành các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Như vậy, vốn là tiền đề, là điều kiện quan trọng, quyết định và là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh. Đối với các tổ chức, cá nhân cơ chế hình thành và sử dụng vốn được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Ngân sách nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật dân sự, Luật hợp tác xã… Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn; đầu tư trong khoản thời gian dài thường từ 2 năm trở lên; lợi ích đầu tư mang lại là lợi ích về tài chính (biểu hiện thành lợi nhuận) và lợi ích về xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội), ảnh hưởng đến lợi ích của người đầu tư và quyền lợi xã hội Vốn đầu tư là toàn bộ chi phí, lượng vốn bằng tiền và vốn bằng tài sản, tài nguyên công sức mà nhà đầu tư bỏ ra để tiến hành thực hiện các hoạt động đầu tư đã được lên kế hoạch từ trước, từ lúc bắt đầu để hình thành dự án đến lúc kết thúc dự án, được hình thành từ hai nguồn tài chính chủ yếu là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Đầu tư có thể hiểu là sự bỏ vốn, sử dụng các nguồn lực của chủ thể có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và tư duy, trí tuệ của con người để thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi ích kinh tế, lợi ích công ích xã hội lớn hơn trong tương lai. Kết quả tạo ra là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền), tài sản vật chất (cơ sở hạ tầng, kĩ thuật, công nghệ), tài sản trí tuệ và nguồn lực cho người đầu tư và cả nền kinh tế được thụ hưởng.
7 Đầu tư xây dựng cơ bản là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động đầu tư để tạo ra các công trình xây dựng , là lĩnh vực sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội (các nhà máy, hệ thống giao thông, công trình thủy lợi, trường học, bệnh viện, …) và là hoạt động tái sản xuất năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH; góp phần quan trọng hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế linh hoạt, thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. - Dự án đầu tư XDCB: Dự án đầu tư XDCB hiểu một cách đơn giản là tổng hợp, lập các phương án hay kế hoạch liên quan đến việc sử dụng vốn đầu tư để thực hiện xây dựng các công trình xây dựng cơ bản. Tổng hợp tất cả những phương án, kế hoạch, giải pháp (từ khảo sát xây dựng, thiết kế, lập quy hoạch, thi công, giám sát xây dựng, quản lý dự án, phương án nguồn vốn cấp phát….) theo trình tự, thủ tục và các quy định của hệ thống pháp luật về đấu thầu, đầu tư công, xây dựng hiện hành để xây dựng công trình dự án. Công trình xây dựng là sản phẩm đơn chiếc của ngành xây dựng, yêu cầu vốn đầu tư lớn, liên tục trong một khoảng thời gian được tạo thành bởi các nguồn lực như nguồn vốn đầu tư, lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được gắn liền với đất được xây dựng theo thiết kế và được tạo ra trong thời gian dài.
- Hoạt động đầu tư: Hoạt động đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn vào để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, việc hỗ trợ, hướng dẫn hay tạo điều kiện thuận lợi là cách để cơ quan xúc tiến đầu tư “mở đường’ cho chính mình trong việc đáp ứng yêu cầu của “một khách hàng” trước dự án trong tương lai, hay nói cách khác mục đích tối cao của đầu tư là hiệu quả; hiệu quả vừa là mục tiêu vừa là động lực và là phương tiện của hoạt động đầu tư. Để đem lại hiệu quả kinh tế trong hoạt động đầu tư cần xây dựng hệ thống pháp luật đầu tư nhằm điều chỉnh những hoạt động đầu tư và xây dựng cơ bản. 8 - Nguồn vốn đầu tư XDCB: Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội tạo ra cơ sở vật chất ban đầu làm tiền đề sản xuất ra của cải vật chất, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nhằm mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư được hình thành từ 2 loại vốn chính chính là vốn trong nước và vốn nước ngoài gồm có nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn từ các chương trình hỗ trợ, nguồn vốn tín dụng đầu tư, nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn hợp tác phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhằm để phát triển, đổi mới nền kinh tế, chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước và huy động toàn bộ nguồn lực hiện có trong các thành phần kinh tế để tái sản xuất xã hội, tạo tiềm lực mới cho đầu tư phát triển nền kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng.
Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước là nguồn vốn được sử dụng khá phổ biến trong đầu tư, sẽ do cơ quan có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm tài chính dành cho đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình phúc lợi xã hội không có khả năng thu hồi vốn và các khoản chi đầu tư khác theo quy định của Luật Ngân sách. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là tất cả các nguồn vốn được tính dựa trên các khoản thu, chi của Nhà nước, trong đó bao gồm các nguồn từ ngân sách trung ương tới ngân sách địa phương dùng để chi cho đầu tư phát triển, là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Nguồn vốn này được huy động chủ yếu từ các khoản thu từ thuế, lệ phí, các khoản nhận viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Theo quy định hiện nay, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước gồm: vốn ngân sách trung ương và vốn ngân sách địa phương: Vốn đầu tư thuộc Ngân sách Trung ương: được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương nhằm chủ yếu đầu tư cho các dự án phục vụ cho 9 lợi ích quốc gia, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do trung ương quản lý.
Vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương: được hình thành từ các khoản thu của ngân sách địa phương được phân cấp quản lý và sử dụng nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ lợi ích của từng địa phương đó gồm : Vốn ngân sách cấp tỉnh; Vốn ngân sách cấp huyện; Vốn ngân sách cấp xã. - Kiểm soát chi NSNN: Là hình thức kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ thanh toán, hồ sơ pháp lý nhằm đảm bảo tính tuân thủ các cơ chế chính sách, quy định về điều kiện chi NSNN của các đối tượng, chủ thể khi tham gia chu trình chi NSNN.