phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng số liệu, sơ đồ, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kiểm soát thuế TN và phí BVMT Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát thuế TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với DN khai thác khoáng sản là một trong những lĩnh vực đang đƣợc các cơ quan quản lý Nhà nƣớc quan tâm trong thời gian gần đây. Công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với DN khai thác khoáng sản tại Cục Thuế TP Đà Nẵng từ trƣớc đến nay chƣa có ai nghiên cứu. Một số công trình nghiên cứu trƣớc đây có liên quan đến đề tài về kiểm soát thuế nói 5 chung và kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với DN khai thác khoáng sản nói riêng tiêu biểu: * Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk”, Nguyễn Thị Hoài An (2017) Đề tài của tác giả đã đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế Tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trên cơ sở đó đƣa ra giải pháp tăng cƣờng quản lý thuế Tài nguyên trên địa bàn tỉnh để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đảm bảo trong việc kê khai, nộp thuế, chống thất thu thuế và tăng thu cho NSNN.
Đề tài của tác giả tập trung vào vấn đề công tác quản lý thuế Tài nguyên, cụ thể gồm các nội dung: Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế Tài nguyên; Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế Tài nguyên; Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thu thuế Tài nguyên; Công tác kiểm tra, kiểm soát việc quản lý thu thuế Tài nguyên. Công tác kiểm soát thuế Tài nguyên chỉ là một nội dung trong các nội dung liên quan đến công tác quản lý thuế Tài nguyên. Trong công tác kiểm soát thuế TN, tác giả chỉ đi sâu vào việc kiểm soát ở khâu thanh tra/kiểm tra. Tuy nhiên, kiểm soát thuế Tài nguyên cần đƣợc thực hiện theo quy trình quản lý thuế, ngoài kiểm soát ở khâu thanh tra/kiểm tra còn thực hiện kiểm soát ở các khâu: Đăng ký thuế, cấp mã số thuế; Kê khai thuế; Quản lý nợ và cƣỡng chế nợ thuế; ử lý vi phạm về thuế.
Ngoài ra, đề tài của tác giả chỉ dừng lại ở công tác quản lý thuế Tài nguyên, chƣa bàn đến phí BVMT. Thực tế, thuế TN và phí BVMT là hai sắc thuế/phí song hành phải kê khai khi doanh nghiệp có phát sinh hoạt động khai thác khoáng sản. 6 * Đề tài “Giải pháp chống thất thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”, Nguyễn Văn Khánh (2012) Đề tài của tác giả tập trung đánh giá thực trạng quản lý thu thuế TN và phí BVMT, nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế TN và phí BVMT, đề xuất giải pháp chống thất thu thuế tài nguyên và phí BVMT đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Cũng tƣơng tự nhƣ đề tài trên, tác giả chƣa hệ thống hóa quy trình kiểm soát thuế TN, phí BVMT qua các khâu.
Điểm nổi bật của đề tài so với đề tài trên, đó là tác giả đã đi sâu vào vào tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế theo từng nhóm đối tƣợng: Ý thức ngƣời nộp thuế; Do nợ đọng thuế; Sự bất hợp lý của thuế suất và giá tính thuế; Do quản lý khai thác tài nguyên. Tuy tác giả trình bày ở mức khái quát những nguyên nhân thất thu thuế nhƣng đã phần nào tạo nền tảng cho công tác kiểm soát đƣợc hiệu quả. Phần giải pháp tác giả chỉ đề cập đến các hoạt động kiểm soát bên ngoài, nhƣ: Hoàn thiện chính sách; Hoàn thiện công tác tổ chức phân cấp quản lý thuế; Nâng cao năng lực cho cán bộ thuế; Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế của ngƣời nộp thuế; Đầu tƣ trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác quản lý thuế, chƣa đƣa ra các giải pháp kiểm soát bên trong theo quy trình quản lý thuế. * Đề tài “Giải pháp tăng thu thuế Tài nguyên, phí Bảo vệ môi trường qua việc phân tích, rà soát hồ sơ khai thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn TP Đà Nẵng”, Trần Thị Dung (2014) Đề tài sáng kiến của tác giả đã nêu các trƣờng hợp trốn thuế, gian lận thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác khoáng sản phổ biến trên địa bàn trong thời gian qua.
Giải pháp của bài viết là ứng dụng công cụ tin học kết hợp với các ứng dụng quản lý thuế để thiết kế một công cụ để khai thác về 7 thuế TN, phí BVMT trong kỳ kê khai tháng, năm. Qua đó, nhằm phát hiện nhanh chóng các sai phạm, giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong công tác kiểm tra. Các giải pháp của bài viết chủ yếu phục vụ cho giai đoạn hậu kê khai, sau khi DN đã phát sinh hành vi vi phạm, bài viết chƣa đề cập đƣợc giải pháp để giúp ngăn ngừa, hạn chế gian lận có thể xảy ra trong tƣơng lai; và đặc biệt chƣa chú trọng đến các khâu khác có liên quan trong chu trình kiểm soát thuế, nhƣ khâu: kê khai, phân tích rủi ro. * Đề tài “Nhận diện một số hành vi gian lận và phương pháp thanh tra thuế trong lĩnh vực thuế Tài nguyên và phí Bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn TP Đà Nẵng”, Nguyễn Thị Hải Yến (2016) Đề tài sáng kiến của tác giả nhận diện các hành vi gian lận phổ biến liên qua đến thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác khoáng sản từ thực tiễn trong công tác thanh tra/kiểm tra và qua việc nghiên cứu, sƣu tầm kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
Qua đó, thống kê chuỗi các hành vi vi phạm và gian lận thƣờng gặp trong lĩnh vực thuế tài TN và phí BVMT để công chức thuế làm công tác thanh tra/kiểm tra có thể nhận diện nhanh chóng, đƣa hƣớng xử lý cụ thể để rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra/ kiểm tra thuế. Tuy nhiên, cũng tƣơng tự nhƣ các đề tài trên, đề tài của tác giả chỉ mới tập trung trong khâu thanh tra/kiểm tra thuế, chƣa đề cập đến các khâu khác trong quy trình kiểm soát thuế: đăng ký thuế, kê khai thuế, quản lý nợ và xử lý vi phạm hành chính về thuế. Hiện nay, lĩnh vực khai thác khoáng sản đang là một trong những chuyên đề đƣợc Cục Thuế TP Đà Nẵng quan tâm và ƣu tiên trong các lĩnh vực chống thất thu thuế. Các đề tài trƣớc đây mặc dù có bàn đến các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế TN nói chung cũng nhƣ công tác kiểm soát thuế TN nói riêng, tuy nhiên chƣa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu 8 và tìm ra những điểm yếu để đƣa ra các giải pháp phù hợp với quy trình kiểm soát thuế TN, phí BVMT theo cơ chế “tự tính, tự khai, tự nộp” của DN khai thác khoáng sản.
Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát các công trình của các tác giả nêu trên, dựa trên việc kế thừa có chọn lọc, tác giả luận văn đi vào nghiên cứu công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác khoáng sản do Cục Thuế TP Đà Nẵng thực hiện, với mong muốn góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT trong thời gian tới ở Cục thuế TP Đà Nẵng. 9 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. Thuế Tài nguyên a.
Khái niệm Thuế Tài nguyên là loại thuế gián thu, đánh vào sản phẩm khai thác chịu thuế (đối tƣợng chịu thuế) là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, nhƣ: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên; Sản phẩm của rừng tự nhiên; Hải sản tự nhiên (động vật và thực vật); Tài nguyên thiên nhiên khác. Ngƣời nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tƣợng chịu thuế tài nguyên. Đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản thì ngƣời nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp Giấy ph p khai thác khoáng sản. Căn cứ tính thuế TN Căn cứ tính thuế TN là cơ sở để xác định số thuế TN phải nộp.
Xác định đúng căn cứ tính thuế không những đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TN vào NSNN, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt tình hình khai thác, nhu cầu sử dụng tài nguyên, trữ lƣợng, sự biến động của các nguồn tài nguyên. Trên cơ sở đó, Nhà nƣớc đƣa ra các chính sách, chiến lƣợc, giải pháp quản lý đồng bộ, thích hợp đối với từng loại tài nguyên trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. 10 Căn cứ tính thuế TN là sản lƣợng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất. Cụ thể, đƣợc thể hiện qua công thức sau: Thuế tài Giá tính Thuế suất Sản lƣợng tài nguyên phải = x thuế đơn vị x thuế tài nguyên tính thuế nộp trong kỳ tài nguyên nguyên + Sản lƣợng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lƣợng tài nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác tài nguyên (bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, đƣa vào chế biến.
Với quy định này đảm bảo ngƣời khai thác tài nguyên phải kê khai, nộp thuế tài nguyên đầy đủ, kịp thời vào NSNN, đảm bảo bình đẳng trong việc khai thác sử dụng tài nguyên. Đối với loại tài nguyên khai thác xác định đƣợc số lƣợng, trọng lƣợng hoặc khối lƣợng thì sản lƣợng tài nguyên tính thuế là số lƣợng, trọng lƣợng hoặc khối lƣợng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế.