chương 1 của Bộ Luật lao động năm 2012 quy định: “ Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [18,tr12]. Thực tế trong từng thời kỳ và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau. Ở Việt nam, độ tuổi lao động được quy định đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Xét về khía cạnh việc làm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp.
Trong luận văn này khái niệm: người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả công và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Khái niệm nông thôn Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “ nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và cư dân chủ yêu làm nông nghiệp” [7,tr852]. Có ý kiến cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư nông thôn thấp hơn so với thành thị. Có ý kiến lại cho rằng dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị.
Như vậy khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và tiến trình phát triên của kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong luận văn này, chúng ta có thể hiểu: Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Khái niệm lao động nông thôn LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn.
LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất. Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Từ khái niệm về ĐTN và khái niệm LĐNT như đã trình bày ở trên chúng tôi xin đưa ra khái niệm về ĐTN cho LĐNT như sau: ĐTN cho LĐNT là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo. Như vậy, từ khái niệm trên ta có thể hiểu chi tiết về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên các khía cạnh sau: Về đối tượng đào tạo nghề: là những người lao động từ 15 tuổi trở lên sinh sống ở các vùng nông thôn; có thể họ là người mới học xong THCS hoặc THPT chưa có việc làm; có thể họ đang tham gia lao động sản xuất nông nghiệp trên diện tích canh tác được giao khoán, thuê khoán sản phẩm; chăn nuôi theo mô hình trang trại, gia trại; hoặc là những người đang tham gia sản xuất trong các lĩnh vực phi nông nghiệp ngay trên quê hương như nghề truyền thống hay nghề mới được tiếp thu về địa phương… Về mục đích đào tạo nghề: đối với những người mới học xong chương trình phổ thông, có thể giúp họ định hướng nghề nghiệp trong tương lai, trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng, kỹ sảo cơ bản của một nghề để họ tìm việc làm; nâng cao tay nghề, trang bị cho người lao động phông lý thuyết để những người lao động đang làm việc nhưng chưa qua đào tạo có được kiến thức cơ bản, có được chứng chỉ đã qua đào tạo nghề, đồng thời để họ vững tin với vị trí họ đang làm hoặc có thể giúp họ tìm được việc làm mới tốt hơn.
Về người truyền đạt kiến thức: khá đa dạng và phong phú, có thể là những giáo viên dạy lý thuyết tại các cơ sở đào tạo nghề, các giảng viên thực hành được tuyển chọn ngoài cơ sở đào tạo nghề như những kỹ sư, công nhân lành nghề, thợ 14 bậc cao, các nghệ nhân, nông dân sản xuất giỏi… Về phương thức giảng dạy: tùy theo từng nghề, từng đối tượng và khả năng tiếp thu kiến thức mà có phương thức đào tạo nghề một cách linh hoạt như đào tạo tại cơ sở ĐTN, đào tạo ngay tại địa phương nơi học viên sinh sống và làm việc, đào tạo tại cơ sở sản xuất hoặc ngay trên đồng ruộng. Đặc điểm và vai trò của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Đặc điểm của lao động nông thôn Do LĐNT sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng tôi đưa ra một số đặc điểm của LĐNT như sau: Một là: LĐNT có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu lao động trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Với đặc thù của sản xuất nông nghiệp nói chung, đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt, sản xuất thường không liên tục mà theo giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Thông thường giai đoạn làm đất, gieo cấy và thu hoạch là những giai đoạn cần nhiều công lao động, còn giai đoạn chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh là giai đoạn không cần nhiều công sức của người lao động, hoặc có giai đoạn không cần sự tác động của con người cây trồng vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường. Do vậy LĐNT có tính thời vụ rõ rệt, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến công tác ĐTN cho LĐNT. Về thời gian tổ chức các lớp ĐTN: nên tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn và tổ chức vào các thời điểm nông nhàn.
Về nội dung và chương trình đào tạo: tùy theo nội dung mà bố trí chương trình cho phù hợp với điều kiện thực tế, nhằm gắn việc truyền đạt lý thuyết với 15 việc hướng dẫn học viên thực hành trên cây trồng và con vật nuôi theo thời điểm sinh trưởng và phát triển của sinh vật. Hai là: do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục. Điều kiện sản xuất nông nghiệp là người lao động là việc ở ngoài trời, bị tác động bởi yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, diễn biến tình hình dịch bệnh. Nên người lao động thường làm việc không theo giờ giấc nhất định mà theo điều kiện thời tiết và các điều kiện thực tế của cây trồng vật nuôi.
Do đó là ảnh hưởng đến tác phong làm việc của người lao động trong sản xuất nông nghiệp là thiếu tính kỷ luật, thời gian làm việc không liên tục, không chịu sự quản lý điều hành của tổ chức hoặc cá nhân. Ba là: LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động. Nước ta là một nước nông nghiệp với nền sản xuất kém phát triển, phần lớn dân số vẫn sống bằng nghề nông, chủ yếu là sản xuất tự cung tự cấp. Vì thế cho nên quy mô sản xuất thường nhỏ lẻ, manh mún, đa canh, đa con.
Với nhiều thế hệ sản xuất theo cách truyền thống đã tạo nên tư tưởng và tâm lý tiểu nông, bằng lòng với những kết quả đã đạt được, thiếu tư duy sáng tạo, không muốn thay đổi phong tục tập quán sản xuất mà các thế hệ cha ông đã truyền dạy, hoặc không dám đối mặt với sự rủi ro, bảo thủ với những cách làm cũ. Từ những đặc thù về tư tưởng, tâm lý của người LĐNT, nên công tác đào tạo nghề cũng cần có phương pháp tiếp cận phù hợp như vừa hướng dẫn lý thuyết nhưng vừa có những dẫn chứng cụ thể bằng cách đi học tập những kinh nghiệm của các địa phương khác đã thực hiện có hiệu quả mô hình mới, cách làm mới. 16 Bốn là: LĐNT có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động.
Theo Bộ Luật lao động, độ tuổi lao động được quy định đối với nam từ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi, đối với nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi. Tuy nhiên, trong nông nghiệp người tham gia sản xuất có thể dưới 15 tuổi hoặc trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam. Đa phần người lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn có trình độ học vấn thấp, hầu như chưa được ĐTN một cách bài bản, chủ yếu là làm theo kinh nghiệm hoặc do được truyền nghề từ người thân trong gia đình. Từ đó đòi hỏi công tác ĐTN cho LĐNT cũng phải tính đến các yếu tố như độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm trong thực tiễn.
Năm là: thu nhập của người LĐNT còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Do thời giờ lao động không nhiều, không đồng đều giữa các thời điểm trong năm, trình độ tay nghề thấp, kết quả sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, sản phẩm đầu ra không ổn định, năng suất lao động thấp, nên thu nhập của người LĐNT còn khá khiêm tốn. Từ đó đã tác động không nhỏ đến việc người lao động tự nguyện bỏ chi phí học nghề, hoặc tự đầu tư để tiếp thu, ứng dụng KHCN mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả lao động. Sáu là: trình độ của LĐNT thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém, thực tế ngay cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác.