Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có lien quan đến đề tài luận văn Chương 2: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong các dn Chương 3: Thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Viện Kiến trúc quốc gia Chương 4: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho. người lao động tại Viện Kiến trúc quốc gia Chuong 1: TONG QUAN CAC CONG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ. LIEN QUAN DEN DE TÀI LUẬN VĂN 1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài “Tạo động lực lao động là vấn đề quan trọng nên đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Điển hình như các nghiên cứu sau đây: Vii Thi Uyén, “Zao động lực cho lao động quản lý trong doanh nghiệp.
nước ở Hụ in năm 2020”, luận án tiến sĩ — Đại học Kinh tế Quốc di , 2008. Luan án đã làm rõ nguôn nhân lực xã hội nói chung và lao động quản lý nói riêng là tài sản quan trọng nhất của mỗi quốc gia, quyết định sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khẳng định vị thế dân tộc trên trường quốc. Trong mỗi doanh nghiệp nhân lực là đầu vào quan trọng nhất, quyết định quá trình kết hợp các nguồn lực khác một cách có hiệu quả đề tạo ra sản phẩm. dịch vụ đáp ứng yêu cầu khách hàng, trong đó lao động quản lý quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bởi vai trò quan trọng trong lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu.
Luận án đã nghiên cứu, xem xét thực trạng đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trần Thị Thuỳ Linh, “Các giải pháp nhằm tạo động lực cho nguôn nhân lực chất lượng cao của Tổng công ty Hàng không Việt Nam”, luận văn thạc sĩ = Đại học Kinh tế quốc dân, 2008. Pham vi nghiên cứu của luận văn là tạo động lực cho lao động chất lượng cao tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Từ việc thu thập, phân tích, xử các số liệu, dữ liệu thu thập được, tác giả thiết lập hệ thống so sánh, đánh giá để tìm ra những điểm chung và sự khác biệt tạo nên các bước đột phá trong việc tạo động lực cho nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Tác giả nhận thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tổng công ty hàng không Việt Nam chưa ổn định và chưa thực sự cống hiến hết mình. Nếu công ty không có chế độ đãi ngộ tốt, tạo được động lực mạnh mẽ cho nhân viên làm việc thì họ sẽ có thể rời bỏ vị trí của mình tại công ty và chuyển đến công ty khác có chế độ đãi ngộ tốt hơn. Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp tạo động lực cho nguồn nhân lực chất lượng cao tại đây như: động viên, khen thưởng, khích lệ tỉnh thần nhân viên kịp thời; tạo môi trường làm việc thuận lợi, chuyên nghiệp; thiết kế công việc phong phú, luôn đòi hỏi sự sáng tạo của người lao động trong những chương trình, kế hoạch mới; cải tiến, hoàn thiện chính sách tiền lương theo hướng ưu tiên thoả đáng cho nguồn nhân lực chất lượng cao; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực nguồn nhân lực; đánh giá thực hiện công việc phù hợp. Nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Lộc (2014), luận văn thạc sĩ trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, tên đề tài là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức: Trường hợp nghiên cứu quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và đề xuất những chính sách gia tăng động lực làm việc cho nhân viên khu vực công. Nghiên cứu đã công chức, ên chức ở 10 đơn vị sự nghiệp. Phương pháp phân tích là phân tích nhân tố và hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên là (1) sự quan tâm và thừa nhận của lãnh đạo, đồng nghiệp; (2) quan hệ xã hội; (3) bản chất công việc; (4) yếu tố vật chất; (5) cơ hội học tập và thăng tiến.
Nghiên cứu này đã xác định được 5 yếu tố tác động đến động lực dựa trên thuyết nhu cầu của Maslow. Nhưng thuyết nhu cầu của Maslow đã được điều chỉnh bởi Nevis (1983) dựa trên hoàn cảnh xã hội ở Trung Quốc, tác giả đã áp dụng lại cho thị trường Việt Nam mà không có sự điều chỉnh. Vũ Quang Hưng, “Tao động lực lao động rại Công ty Bảo Việt Sơn La”, luan van thac si — Dai hoc Kinh té quéc dân, 2010. Luận văn của tác giả cũng đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác tạo động lực cho lao động trong doanh nghiệp.
Trên cơ sở này, tác giả tiến hành phân tích thực trạng tạo động lực cho lao động tại Công ty Bảo việt Sơn La. Tác giả không những sử dụng dữ liệu thứ cấp mà còn tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý của Công ty nhằm đánh giá công tác tạo động lực này. Trên cơ sở này, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động. lực của Công ty trong thời gian tới.
Pham Thị Vân Anh, “7¿o động lực lao động cho giảng viên Trưởng Đại học Tây Bắc”, luận văn thạc sĩ = Đại học Kinh tế Quốc dân, 2013. Bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học đã thu thập các thông tin đề tiến hành tổng hợp phân tích và rút ra được những nhận định, hệ thống hóa lý luận về công tác tạo động lực cho giảng viên Trường Đại học Tây Bắc. Tác giả đã đưa ra được một số công cụ tạo động lực cho người lao động thông qua tiền lương, tiền thưởng và đánh giá một số yếu tố tác động đến động lực làm việc của người lao động như môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến, đào tạo. Từ nghiên cứu thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ tạo động lực lao động cho giảng viên Trường Đại học Tây Bắc như tiền lương, thưởng, cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc,.
Luận văn Thạc sĩ : “Một số biện pháp tạo động lực cho người lao động trong công ty Cô phần Đâu tư xây dựng và nạo vét công trình thúy.”, tác giả Trin Phương Nga (2010), chuyên ngành Quản trị Nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề tạo động. lực cho lao động tại Cổ phần Đầu tư xây dựng và nạo vét công trình thủy, tác giả nhận thấy đặc thù công việc của ngành xây dựng và nạo vét công trình thủy là địa điểm làm việc không cố định, phải đi công tác thường xuyên, môi trường lao động chịu nhiễu ảnh hưởng môi trường nên người lao động chịu rất nhiều áp lực, đây cũng là nghề đòi hỏi người lao động phải có sức khoẻ tốt, ý thức kỷ luật lao động cao, trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ tốt. Do đó, tạo động lực cho người lao động tại xây dựng và nạo vét công trình thủy gặp phải khó khăn hơn một số ngành nghề cơ bản khác.
Trong khi đó, mức thu nhập của người lao động chưa cao, phân công lao động chưa hợp lý, đánh giá công việc chưa thực hiện tốt,. Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng. cao hiệu quả công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và nạo vét công trình thủy. Luận văn “Biện pháp tạo động lực cho người lao động tại công ty Electronics Viét Nam”, tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2011), chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân.
Ngoài những van đề lý thuyết cơ bản tác giả nêu thêm sự cần thiết phải tạo động lực cho lao động quản lý. Người lao động quản lý là người lao động hoạt động trong bộ máy quản lý và tham gia vào chức năng quản lý như: nhân viên quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế, quản lý hành chính.Sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động làm cho họ có động lực làm việc, cảm thấy hài lòng với công việc và mong muốn đóng góp cho doanh nghiệp. Tác giả cũng nêu ra một số kinh nghiệm tạo đông lực quản lý của các công ty LG trên toàn thế giới như ở Thailand, Australlia, Malaysia, Án Độ. Bài nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thu Hà (2012), Tạo động lực lao động tại VietinBank, đăng trên tập san nội bộ của Vietinbank.
Bài nghiên cứu của tác giả đã trình bày những biện pháp để tạo động lực lao động cho toàn thể cán bộ, NLĐ đang được áp dụng tại VieinBank. VietinBank thực hiện cơ chế lương thưởng, chính sách phúc lợi cạnh tranh, công bằng, minh bạch đảm. bảo đáp ứng được nhu cầu của NLĐ cả về vật chất và tỉnh thần. VietinBank gắn chính sách tiền lương với chính sách quản lý lao động.
Vietinbank cũng đã xây dựng văn hóa doanh nghiệp. VietinBank thường xuyên đào tạo toàn diện đối với mọi đối tượng cán bộ, NLĐ, từ cán bộ mới tuyển dụng đến các cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ quản lý, cán bộ diện quy hoạch và cán bộ nguồn trong toàn hệ thống,. Phạm Phương, Bài phát biểu tại buổi tọa đàm “Năng suất lao động - Van đề của doanh nghiệp hay người lao động”, năm 2015. Tác giả cho rằng khi mức lương không đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của người lao động, thì không thể đòi hỏi họ phải cố gắng có những kỹ thuật, những thái độ tốt hơn đối với các doanh nghiệp, xây dựng doanh nghiệp.
Do đó, tiền lương là yếu tố quan trọng để tạo động lực lao động. Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải, “Tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ chức hành chính nhà nước” đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, 2013. Tác giả nghiên cứu các khái niệm về tạo động lực lao động, từ đó rút ra đặc điểm chung là động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau.