Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ cấu vốn của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của luận văn Chương 3 : Thực trạng cơ cấu vốn của Công ty than Núi Hồng - VVMI Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ cấu vốn cho Công ty than Núi Hồng - VVMI 2 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi phải sử dụng vốn hợp lý nhất. Doanh nghiệp có thể sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc đi vay dưới nhiều hình thức, nếu chỉ sử dụng vốn chủ sơ hữu hay vay nợ quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn như thế nào là hợp lý cho doanh nghiệp là câu hỏi khó đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào.
Nhận thấy tầm quan trọng của cơ cấu vốn đối với doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước ngày càng gay gắt và mãnh liệt như hiện nay nên tác giả đã lựa chọn đề tài về cơ cấu vốn để giúp doanh nghiệp hoàn thiện hơn việc sử dụng vốn. Trên thế giới cũng đã có một số công trình nghiên cứu về cơ cấu vốn và một số mô hình kinh tế lượng đã được xây dựng để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Sự phát triển lý thuyết về cơ cấu vốn ghi nhận hai kết quả nghiên cứu có đóng góp quan trọng. Luận điểm của Modigliani và Miller (thường được viết tắt là M&M) 1958 và 1963, cho rằng với các quyết định đầu tư nhất quán, các đối tác có quyền lợi liên quan nhưng không nằm trong doanh nghiệp phải đại diện cho cơ cấu vốn có tác động tới giá trị doanh nghiệp.
Dư nợ tối ưu của doanh nghiệp cần cân bằng khoản thuế được giảm trừ nhờ việc thanh toán lãi vay với chi phí ngoại sinh của khả năng vỡ nợ. Luận điểm của Jensen và Mecking (thường được viết tắt là J-M), 1976, xem xét lại mô hình M&M với giả định các quyết định đầu tư độc lập với cơ cấu vốn. Năm 1984, thông qua mô hình CAPM và kiểm nghiệm thực tế, Harris đã chứng minh rằng tỷ suất lợi nhuận trung bình tăng lên sẽ kéo theo rủi ro tăng, hệ quả là chi phí vốn tăng. Điều này có thể giải thích cho việc doanh nghiệp ưa thích tài trợ bằng nợ hơn vốn chủ sở hữu.
Vay nợ tạo ra đòn cân nợ, tận dụng được lá chắn thuế từ vay nợ nhưng nếu vay nợ nhiều thì sẽ bị tác động bởi chi phí kiệt quệ 3 z tài chính. Các sách này không chỉ rõ vay nợ khoảng bao nhiêu thì sẽ bị tác động bởi chi phí kiệt quệ tài chính và với mức vay nợ bao nhiêu thì hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính sẽ làm triệt tiêu lợi thế của “lá chắn thuế” từ nợ vay. Các tác giả trong nước đã có một số nghiên cứu liên quan đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, hoặc cơ cấu tài chính tại các Tập đoàn kinh tế. Đầu tiên kể đến hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý tài chính nói chung và cơ cấu vốn nói riêng tại các Tập đoàn kinh tế của tác giả Phạm Quang Trung như: “Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam đến năm 2020 (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 2013); “Mô hình công ty mẹ - công ty con và tái cơ cấu tài chính các tổng công ty lớn” (Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – 2007); “Quản lý Tài chính trong các tập đoàn kinh doanh (tổng công ty) ở Việt Nam” (Tạp chí Kinh tế Phát triển – 1997); “Một mô hình thực nghiệm nhiên cứu cơ cấu vốn tổng thể của các nước trên thế giới” (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, Viện kinh tế thế giới – 2005); và bài viết: “Các nhân tố quyết định sự lựa chọn cơ cấu vốn tại một số nước ASEAN” (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Viện Kinh tế học – 2005).
Ngoài ra, một số công trình đã đi vào nghiên cứu về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp cụ thể, tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng ở mức độ phân tích thực trạng cơ cấu vốn tại các doanh nghiệp cụ thể này, đồng thời đề xuất mang tính định tính để đổi mới cơ cấu vốn của các doanh nghiệp đó như các nghiên cứu của các tác giả Bùi Văn Thi trong các luận văn thạc sỹ (2001) với đề tài “Đổi mới cơ cấu vốn của công ty Shell Gas Hải Phòng”. Bài viết của tác giả Đàm Văn Huệ trên tạp chí Kinh tế phát triển số tháng 10/2005 “Bàn về điều kiện xác lập cơ cấu vốn của các Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, đã phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp cũng như các điều kiện xây dựng cơ cấu vốn tối ưu cho các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên các nhân tố cũng như các điều kiện này được phân tích chủ yếu dựa trên các phân tích đơn thuần về lý thuyết mà chưa được kiểm chứng qua thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp. Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Thị Thanh Tú (Đại học Kinh tế quốc dân – 2006) với đề tài “Hoàn thiện cơ cấu vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” đã 4 z đưa ra mô hình kinh tế lượng để xác định ảnh hưởng của một số nhân tố rất cơ bản và truyền thống đến cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam. Khi đưa ra khái niệm về Doanh nghiệp, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (TS.Bùi Văn Vần, TS.Vũ Văn Ninh – 2013), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (PGS.
Nguyễn Đình Kiệm, TS.Bạch Đức Hiển – 2010), đều đưa ra: “Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu” Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về cơ cấu vốn của doanh nghiệp cũng chưa được nhiều. Nghiên cứu về cơ cấu vốn của doanh nghiệp có luận án tiến sỹ của tác giả Trần Thị Thanh Tú (2006) với đề tài “Đổi mới cơ cấu vốn của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay”, luận văn của các tác giả Nguyễn Khả Phong với đề tài “Cơ cấu vốn tối ưu cho Công ty TNHH chế biến bột mỳ Mê Kông” (2008), luận văn của tác giả Lưu Thị Hạnh với đề tài “Hoàn thiện cơ cấu vốn tại Công ty cổ phần tập đoàn Hòa Phát” (2012), của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga Với đề tài “Đổi mới cơ cấu vốn của Công ty cổ phần Đầu tư và xây dựng số 4” (2008) đều khẳng định không có một cơ cấu vốn tối ưu cho các doanh nghiệp. Mỗi một doanh nghiệp có một đặc điểm riêng về ngành nghề kinh doanh, về cách quản lý hay về cách huy động vốn. Do đó, để có được cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp cần đi sâu phân tích từng doanh nghiệp mới có thể đưa ra được giải pháp.
Nghiên cứu về cách huy động vốn, đa số các giáo trình: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (TS.Bùi Văn Vần, TS.Vũ Văn Ninh – 2013), một số luận án và luận văn của Trần Thị Thanh Tú, Nguyễn Khả Phong, Lưu Thị Hạnh, Nguyễn Thị Tuyết Nga đều phân loại ra huy động vốn bằng vốn chủ sở hữu và huy động vốn nợ. Theo các tác giả thì một doanh nghiệp chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu thì không mang lại hiệu quả kinh doanh cao như khi có sử dụng vốn nợ. Nghiên cứu về căn cứ thiết lập cơ cấu vốn tối ưu các tác giả của Luận án và Luận văn trên đều chỉ ra đó là: Căn cứ vào chi phí vốn và sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Tuy nhiên, để áp dụng vào Công ty Than Núi Hồng – là một doanh nghiệp nhà nước thì có luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Tú và giai đoạn 5 z Công ty vẫn là DNNN chưa cổ phần trong luận văn của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga đã nêu ra rất rõ cách tính chi phí nợ, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu và chi phí bình quân như thế nào.
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn, tất cả các tác giả đều cho rằng cơ cấu vốn chịu ảnh hưởng của rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính; chi phí phá sản của doanh nghiệp; cơ cấu tài sản của doanh nghiệp và đòn bẩy hoạt động; yếu tố quản lý: nhận thức, năng lực, sự mạo hiểm của nhà quản lý doanh nghiệp; chính sách thuế; mức độ hiệu quả của thông tin trên thị trường tài chính. Tuy nhiên tác giả tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng theo các nhân tố chủ quan và khách quan, từ dó dễ dàng đưa ra các giải pháp mang tính chủ động của doanh nghiệp hay dựa vào khách quan bên ngoài. Các sách, luận án và luận văn trên đều chung nội dung là tìm ra cơ cấu vốn tối ưu nhất cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp lại có đặc thù riêng và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu cơ cấu vốn của Công ty Than Núi Hồng – VVMI.
Vì vậy, tác giả lựa chọn khoảng trống này để nghiên cứu. Khái quát về vốn của doanh nghiệp 1.1 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu. và sức lao động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn tiền tệ nhất định. Với từng loại hình pháp lý tổ chức, doanh nghiệp có phương thức thích hợp tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu, từ số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu. Sau khi sản xuất xong, doanh nghiệp thực hiện bán hàng hóa và thu được tiền bán hàng.