CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan về công tác thanh tra 1.1 Khái niệm về thanh tra Thanh tra có từ gốc Latinh (Inspectare) nghĩa là “nhìn vào bên trong”, để chỉ về một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng cụ thể. Đó là sự kiểm tra, kiểm soát đối với các đối tượng bị thanh tra trên cơ sở quyền hạn, nhiệm vụ được giao nhằm đạt được những mục đích nhất định. Thanh tra mang tính quyền lực pháp lý, do các chủ thể có quyền lực tiến hành theo quy định của pháp luật. Qua công tác thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và phòng ngừa những gì không đúng với quy định của pháp luật.
Ngoài ra, thanh tra còn có thể được hiểu là sự xem xét, kiểm tra định kỳ, thường xuyên nhằm đưa ra những nhận xét, kết luận cần thiết làm cơ sở kiến nghị với các cơ quan nhà nước những giải pháp nhằm khắc phục, chấn chỉnh những hạn chế, tiêu cực và phát huy những nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Hoạt động thanh tra theo quy định gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo các cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật cũng như những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.
Như vậy, Thanh tra là phạm trù dùng để chỉ hoạt động của các tổ chức thực hiện quyền thanh tra theo cấp hành chính và theo chuyên ngành, lĩnh vực. Thanh tra là hoạt động của cơ quan thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp 7 phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Trường cán bộ Thanh tra, 2010) Cơ quan thanh tra và đối tượng thanh tra thường không có quan hệ trực thuộc. Cơ quan thanh tra do thủ trưởng các cơ quan hành chính thành lập, nó hoạt động với tư cách là cơ quan chức năng giúp thủ trưởng cùng cấp, vì thế có thể coi hoạt động thanh tra là hoạt động của cơ quan cấp trên tiến hành với cơ quan cấp dưới trực thuộc.
Trong quá trình tiến hành hoạt động thanh tra, cơ quan thanh tra có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm công tác thanh tra, kể cả các biện pháp trách nhiệm kỷ luật và xử lý vi phạm hành chính nhưng không có quyền sửa đổi, bãi bỏ quyết định của đối tượng bị thanh tra mà chỉ có quyền tạm đình chỉ thi hành một số loại quyết định hành chính nào đó hoặc đình chỉ hành vi hành chính vi phạm pháp luật. Về mặt lý luận, V. Lênin đã khẳng định: quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai. Theo quan điểm của Lênin, khi đề cập đến công tác thanh tra không thể không đề cập đến vấn đề quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng, hoạt động thanh tra được đặt trong hoạt động quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước được hiểu là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. QLNN được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước. Do quyền lực nhà nước được phân chia thành ba loại quyền là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp nên quan niệm chung về quản lý nhà nước trong trường hợp này được hiểu theo nghĩa rộng, đó là hoạt động thực thi quyền lực trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Các chủ thể thực thi quyền lực đó tác động đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm duy trì trật tự, bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng nhằm thúc đẩy các giá trị kinh tế, chính trị, xã hội phát triển theo mục tiêu định hướng của nhà nước. Trong quản lý nhà nước không thể thiếu các hoạt động chấp 8 hành, điều hành nhằm thực thi pháp luật. Hoạt động này gắn liền với việc thực hiện quyền hành pháp, đó chính là hành chính nhà nước. Như vậy, hành chính nhà nước được hiểu là một bộ phận của quản lý nhà nước.
Các hoạt động hành chính nhà nước lại bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như ban hành chính sách, quy định, tổ chức thực thi chính sách, pháp luật, kiểm tra, xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm trong những điều kiện cần thiết. Khi đề cập đến hoạt động kiểm tra, đánh giá, xem xét việc thực hiện pháp luật của các chủ thể nói chung, có hai nhóm chủ thể là đối tượng của hoạt động này đó là các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối với các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước thì hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá nhằm đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ công vụ, trên cơ sở sự phân công, phân nhiệm cụ thể trong quản lý. Hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá này được coi là một phương thức bảo đảm việc thực thi quyền hành pháp đúng với quỹ đạo là phục vụ cho quản lý xã hội, chính là một nội dung của kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước (mà cụ thể và chủ yếu ở đây là thực thi quyền hành chính).
Đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá này lại chính và việc thực hiện quyền hành chính nhằm kịp thời phát hiện ra các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật về quản lý trên các lĩnh vực. Đó chính là sự kiểm tra, xem xét, đánh giá của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Ví dụ như việc kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý vi phạm của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này. Công tác thanh tra trước hết được xem xét như một phương thức nằm trong cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước nói chung.
Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Để bảo đảm mọi hoạt động của nước đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, Nhà nước đã thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, bao gồm: Kiểm tra của đảng, kiểm tra giám sát tối cao quốc hội, kiểm tra giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, thanh tra nhà nước, kiểm tra giám sát của nhân dân thông qua các đoàn thể, tổ chức quần chúng hoặt trực tiếp gửi đơn thư đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, 9 giám sát của các cơ quan thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình. Mỗi loại hình kiểm tra, giám sát trên đây có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và phương thức thực hiện việc kiểm tra, giám sát khác nhau nhưng cùng có mục tiêu chung là kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách, phát luật, cơ chế quản lý; tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong hệ thống kiểm tra, giám sát nói trên, ở Việt Nam, hệ thống thanh tra nhà nước có chức năng giúp cơ quan quản lý nhà nước xem xét đánh giá và xử lý đối với các cơ quan ,tổ chức, đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, các quyết định của mình đồng thời , xem xét, đánh giávà xử lý đối với việc chấp hành chính sách, phát luật nói chung của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực quản lý của mình.
Mặc dù có sự thay đổi về tổ chức và thẩm quyền, phương thức hoạt động nhưng công tác thanh tra luôn là một bộ phận của công tác quản lý nói chung và vị trí quan trọng của nó còn được xác định là một phương thức để kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Khái niệm thanh tra được định nghĩa trong Luật Thanh tra năm 2004 dưới khái niệm thanh tra nhà nước. Luật Thanh tra năm 2010 thay thế Luật Thanh tra năm 2004 cũng đưa ra định nghĩa tương tự. Theo đó, Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật []1.2 Đặc điểm của công tác thanh tra Thanh tra có những đặc điểm như sau: 1.1 Thanh tra mang tính quyền lực nhà nước Thanh tra là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó với tính quyền uy - phục tùng, đây chính là một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước.