CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính 1.Thủ tục hành chính Thủ tục thường được hiểu ở nghĩa chung nhất là quy trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó, bao gồm những nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong đợi. Theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, ngày 08/06/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC đã xác định: “TTHC là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”.
Theo Giáo trình Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính 2014, Môn học Những vấn đề cơ bản về Hệ thống chính trị, Nhà nước và Pháp luật Xã hội chủ nghĩa: “TTHC là trình tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức được ủy quyền quản lý nhà nước trong việc giải quyết các công việc của nhà nước nhằm thi hành nghĩa vụ quản lý hành chính, bảo đảm công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân”[10,tr207]. Theo Giáo trình Thủ tục hành chính của Học viện Hành chính quốc gia 2011: “TTHC là trình tự, cách thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và cá nhân công dân. Nó giữ vai trò đảm bảo cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền của các cơ quan nhà nước hoặc của các cá nhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước”[8, tr7]. Như vậy, TTHC được hiểu là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền quản lý nhà nước trong mối quan 6 n hệ nội bộ của hành chính và trong mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và cá nhân công dân.
TTHC có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý nhà nước. Đây được xem là thước đo hành vi của cán bộ, công chức, viên chức và công dân đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước; là cơ sở đảm bảo triển khai thực hiện thống nhất các quyết định hành chính nhà nước; là công cụ quan trọng để điều hành hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; góp phần đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc dân chủ trong quản lý; qua đó thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân. Cải cách thủ tục hành chính Xét về tính chất, cải cách khác hoàn toàn so với sáng kiến và thay đổi. Nếu sáng kiến hay thay đổi chỉ đề cập đến một khía cạnh, một nội dung nào đó của hoạt động thì cải cách là đề cập đến thay đổi có tính hệ thống và có mục đích nhằm làm cho hoạt động tốt hơn.
Cải cách hành chính nhà nước là một quá trình cải cách lớn tác động đến nhiều mặt của nền hành chính nhà nước xuất phát từ những yêu cầu khách quan nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước. Nội dung cải cách hành chính nhà nước của Việt Nam tập trung vào các nội dung: Cải cách thể chế hành chính nhà nước, cải cách TTHC, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính. Trong 06 nội dung đó thì cải cách TTHC hiện nay được xem là khâu đột phá xuất phát từ tầm quan trọng và tình hình thực tiễn của thủ tục hành chính. Về mặt thuật ngữ, “Cải cách TTHC là một quá trình nhằm khắc phục những hạn chế của hệ thống thủ tục hiện hành theo hướng đơn giản hóa, minh bạch hóa, công khai hóa, tạo ra sự chuyển biến căn bản trong quan hệ giải quyết công việc giữa các cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân” [8, tr17].
Cải cách TTHC xuất phát từ những bất cập của hệ thống thủ tục hành chính hiện hành: hệ thống thủ tục vẫn còn cồng kềnh, rườm rà, đòi hỏi nhiều giấy tờ gây 7 n tốn kém thời gian và chi phí đi lại của người dân; một số thủ tục thiếu tính thống nhất và chưa xác định rõ trách nhiệm;… đã gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước, cho cả người dân, doanh nghiệp, và đã tạo điều kiện cho nhũng nhiễu, tham nhũng xuất hiện. Vì vậy, cải cách TTHC nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính; loại bỏ những rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân. Mặt khác, cải cách TTHC để góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Chính sách cải cách thủ tục hành chính 1.
Chính sách công Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính 2001: “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của nhà nước. Chính sách công cho phép chính phủ đảm nhiệm vai trò người cha đối với cuộc sống nhân dân. Nó tạo thời cơ, giữ gìn hạnh phúc và an toàn cho mọi người, tạo ra an toàn tài chính và bảo vệ an toàn Tổ quốc”.TS Lê Chi Mai, “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định”. [12] Theo Giáo trình Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính 2014, “Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, phù hợp với thái độ chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội trong mỗi thời kỳ”.TS Nguyễn Hữu Hải, “Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển ổn định và bền vững”.[6, tr167] Các quan điểm trên đều đứng ở những góc độ khác nhau để nghiên cứu chính 8 n sách công nhưng giống nhau ở chỗ đều xác định chính sách công là sản phẩm có mục đích của nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu khái quát: Chính sách công là chương trình hành động của Nhà nước để giải quyết các vấn đề có tính cộng đồng, phù hợp với thái độ chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội trong mỗi thời kỳ. Chính sách công có vai trò quan trọng quản lý nhà nước và trong đời sống xã hội, vai trò đó được thể hiện qua các mặt sau: Là cơ sở định hướng, tạo lập môi trường và điều chỉnh các hoạt động cho các chủ thể trong xã hội; hỗ trợ và tạo động lực cho các chủ thể trong xã hội phát triển theo định hướng; đảm bảo phân phối nguồn lực một cách hài hòa cho quá trình phát triển; thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành trong quản lý nhà nước. Chính sách công có những đặc trưng cơ bản sau: Do các cơ quan nhà nước ban hành vì thế người ta thường hiểu chính sách công là chính sách của nhà nước; là một dạng biểu hiện cụ thể của quyết sách chính trị của đảng cầm quyền qua đó thể hiện ý chí của nhà nước đối với một lĩnh vực nào đó của xã hội; nội dung của chính sách công không chỉ bao gồm dự định của chủ thể hoạch định chính sách mà còn bao gồm hoạt động để thực hiện các dự định đó; chính sách công bao gồm nhiều quyết định do một hay nhiều cấp cùng ban hành, được thực hiện trong thời gian tương đối dài và được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn cụ thể; nội dung của chính sách công luôn chịu tác động bởi các yếu tố khách quan và chủ quan. Thực thi chính sách công “Thực thi chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.” [7,tr 56] Thực thi chính sách công là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể hoạch định chính sách thành hiện thực với các bước đi cụ thể.
Thực tế đã chứng minh có nhiều trường hợp xảy ra trong quá trình thực thi chính sách: chính sách tốt, thực thi tốt dẫn đến thành công; chính sách tốt, thực thi tồi dẫn đến thất bại. Theo đó, để đảm bảo chính sách thực thi tốt cần phải trải qua các các bước cơ bản sau: - Xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách công 9 n Đây là bước đầu tiên trước khi đưa chính sách vào cuộc sống, đòi hỏi các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện cụ thể. Qua đó, bước này cần xác định rõ các nội dung: Hệ thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện; nhân sự tham gia thực thi; cơ chế trách nhiệm của việc thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực thi; các nguồn vật lực cần thiết cho thực thi; lộ trình thời gian triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm; nội quy, quy chế trong thực thi. - Phổ biến, tuyên truyền chính sách công Thực hiện bước này tốt sẽ giúp cho các đối tượng chính sách và các bên có liên quan thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, tính khả thi của chính sách và tăng khả năng cam kết thực hiện.
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công Giai đoạn này cần xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong quá trình thực thi chính sách. Cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm về tổng thể, điều tiết, phân phối nguồn lực; với cơ quan phối hợp thì cần xác định rõ nội dung, phương thức, trách nhiệm và quy tắc phối hợp thực hiện chính sách. - Duy trì và điều chỉnh chính sách công Chính sách cần được duy trì bằng nhiều nhiều nguồn lực khác nhau. Mặt khác, nhà nước cần quan tâm đến việc điều chỉnh chính sách kịp thời.