Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục hành chính : 1.1 Khái niệm thủ tục và thủ tục hành chính : Khi nghiên cứu các hoạt động diễn ra trong đời sống hàng ngày người ta nhận ra rằng các hoạt động đó đều được thực hiện bằng những hành động nối tiếp nhau theo thứ tự thời gian và cách thức nhất định. Trình tự và cách thức đó được gọi là thủ tục. Thủ tục ấy cũng được coi là hình thức đối với nội dung hoạt động. Đối với hoạt động quản lý cũng vậy, nó được diễn ra và tồn tại hình thức của thủ tục quản lý.
Vậy thủ tục là gì ? Trong khoa học pháp lý khái niệm thủ tục thường được áp dụng ở khía cạnh thực hiện quy phạm của luật vật chất.Mác, thủ tục là hình thức sống của đạo luật và luật vật chất có hình thức thủ tục riêng của nó. Cho nên, thủ tục ở đây được hiểu là trình tự và cách thức thực hiện những hành động nhất định nhằm đạt tới những hệ qủa pháp lý mà phần quy phạm vật chất dự kiến trước. Trong quản lý nhà nước, ngoài tính kế tiếp, liên tục của hành động (trình tự), còn có cả phương pháp và cách thức hành động. Phương pháp và cách thức hành động này có ý nghĩa rất quan trọng và được quy định bởi luật – đó là luật hành chính.
Như vậy, khái niệm thủ tục bao hàm khái niệm trình tự và cách thức hiện các hành động đó. Từ vấn đề nêu trên cho thấy, thủ tục hành chính là toàn bộ những thủ tục của hoạt động quản lý được luật hành chính quy định. Hiện nay, cả trong nước và trên thế giới khái niệm thủ tục hành chính chưa có quan điểm thống nhất về mặt phạm vi. Có tác giả cho rằng thủ tục hành chính là trình tự mà luật hành chính quy định, theo đó các cơ quan nhà nước giải quyết các tranh chấp về quyền và xử lý vi phạm pháp luật.
Một số tác giả khác coi đó là trình tự do luật hành chính quy định, trên cơ sở đó các cơ quan quản lý nhà nước được giải quyết mọi 10 vụ việc cá biệt cụ thể. Cũng có quan điểm khác (quan điểm thứ ba) cho rằng thủ tục hành chính là trình tự và cách thức do luật hành chính quy định nhằm thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, tức là bao gồm không chỉ trình tự và cách thức thực hiện hoạt động sáng tạo pháp luật. Quan điểm này được nhiều nhà nghiên cứu luật của Việt Nam ủng hộ vì phạm vi của khái niệm thủ tục hành chính rộng hơn và hợp lý hơn.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính : Từ các quan điểm nêu trên cho thấy thủ tục hành chính có 3 đặc điểm sau : - Thứ nhất, thủ tục hành chính phải được luật hành chính quy định chặt chẽ. Đây cũng chính là đặc điểm quan trọng nhất của thủ tục hành chính bởi, trong thực tiễn quản lý có rất nhiều loại hoạt động, có những hoạt động được luật hành chính điều chỉnh nhưng cũng có loại hoạt động không được các quy phạm của luật hành chính quy định.
Vì thế, chỉ những hoạt động cụ thể nào được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh mới được coi là thủ tục hành chính. - Thứ hai, xuất phát từ việc chủ thể có quyền xem xét và ra quyết định theo trình tự mà luật hành chính quy định là cơ quan quản lý nhà nước nên thủ tục hành chính chủ yếu được thực hiện ngoài trình tự toà án. Đây chính là sự khác biệt giữa thủ tục hành chính với thủ tục giải quyết các vụ kiện tại các toà án dân sự, kinh tế và lao động. Điều này cũng cho thấy hoạt động tố tụng ở các toà án có mục đích thực hiện phần chế tài hoặc phần quy định của quy phạm vật chất của luật hành chính và nhiều ngành luật khác nếu được hiểu theo nghĩa rộng của loại quan điểm thứ ba nêu trên.
- Thứ ba, các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ quy định trình tự thủ tục thực hiện quy phạm vật chất của luật hành chính mà còn quy định trình tự thủ tục thực hiện đối với các quy phạm vật chất của các ngành luật khác như luật đất đai, tài chính, dân sự, khoáng sản, lao động, hải quan …Chúng được thể hiện rõ nhất trong loại thủ tục giải quyết các tranh chấp và xử lý các loại vi phạm pháp luật khác nhau do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện.2 Các nguyên tắc của thủ tục hành chính : Thủ tục hành chính Việt Nam được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc được Hiến pháp Việt Nam quy định trực tiếp hoặc gián tiếp, được các văn bản pháp luật khác cụ thể hoá và bổ sung. Sau đây là những nguyên tắc cơ bản của thủ tục hành chính : 1.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa : Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa của thủ tục hành chính có cơ sở là Điều 12 của Hiến pháp 1992: “ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa …”. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa có mục đích bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Áp dụng nguyên tắc này vào thủ tục hành chính có nghĩa là chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền do luật định mới được thực hiện các thủ tục hành chính nhất định, và phải thực hiện đúng trình tự được pháp luật quy định với những biện pháp và hình thức được pháp luật cho phép.
Thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn là sự bảo đảm quyền khiếu nại của các chủ thể tham gia quan hệ thủ tục hành chính.2 Nguyên tắc khách quan : Nguyên tắc này còn gọi là nguyên tắc chân lý khách quan, vì thực tế khách quan là thước đo chân lý. Nguyên tắc này có quan hệ trực tiếp đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc xử lý công khai, minh bạch. Trong hoạt động quản lý nhà nước và trong quan hệ pháp luật hành chính nếu không bảo đảm nguyên tắc này, cơ quan có thẩm quyền rất dễ bị ngộ nhận, ra quyết định quản lý không đúng và do đó sẽ không có pháp chế hoặc vi phạm pháp luật.3 Nguyên tắc công khai, minh bạch : Đây là nguyên tắc chung của thủ tục hành chính. Nghĩa là, khi giải quyết các vấn đề cụ thể thuộc các lĩnh vực như thủ tục cấp giấy phép xây dựng, đăng ký hộ khẩu, xin cấp thị thực xuất cảnh, nhập cảnh, cấp giấy phép kinh doanh, thủ tục hải quan hay thủ tục ban hành các quyết định quản lý nhà nước quan trọng (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia cần hạn chế) v.v…cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành phải công 12 khai thông báo, hướng dẫn tỉ mỉ cho đương sự biết để thực hiện.
Nguyên tắc công khai, minh bạch nếu được đảm bảo thì sẽ thực hiện tốt nguyên tắc chân lý khách quan và mối quan hệ này sẽ tác động thúc đẩy lẫn nhau.4 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật giữa các bên tham gia thủ tục hành chính : Nguyên tắc này chủ yếu được áp dụng trong thủ tục giải quyết các tranh chấp về quyền hoặc các vi phạm pháp luật. Trong loại thủ tục này, các bên, không phân biệt đó là công dân hay cơ quan nhà nước, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc … đều có quyền và nghĩa vụ như nhau như quyền chứng minh, đưa chứng cứ biện hộ cho mình, quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính xem xét kỹ lưỡng mọi yêu cầu của mình; có quyền tham gia vào mọi giai đoạn của thủ tục giải quyết tranh chấp.5 Nguyên tắc đơn giản, tiết kiệm : Đây là một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm cho mọi công dân có thể tham gia các thủ tục hành chính để bảo vệ quyền của mình hoặc của tổ chức, công dân khác. Thực hiện nguyên tắc đơn giản, tiết kiệm sẽ làm giảm các chi phí về tiền, phương tiện, người, thời gian của Nhà nước và do đó nâng cao được chất lượng hoạt động quản lý nói chung và của thủ tục ban hành các quyết định nói riêng, nhất là bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc được kịp thời. Thực tế cho thấy thời gian qua việc bỏ hẳn một số loại phí, thuế đối với công dân hoặc giảm một số bước, cấp trong giải quyết thủ tục hành chính, thủ tục khiếu nại đồng thời tăng quyền và trách nhiệm của một số cơ quan nhà nước đã thể hiện cụ thể việc thực hiện nguyên tắc này.6 Nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời : Nguyên tắc này được thể hiện trong các văn bản pháp luật quan trọng về các loại thủ tục hành chính cụ thể, được quy định dưới dạng nguyên tắc chung; đồng thời được cụ thể hoá bằng các chương, điều về thời hiệu xử lý, thời hạn thi hành quyết định xử lý, thời gian thực hiện các bước thủ tục hành chính v.v…Trong hoạt động quản lý nhà 13 nước, việc ban hành các quyết định quản lý nhà nước càng phải tuân thủ nguyên tắc này.7 Nguyên tắc thể hiện trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc thực hiện đúng đắn và nghiêm túc thủ tục hành chính : Đây là nguyên tắc có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng.
Các quy định của Hiến pháp nước ta đã có những quy định về bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, quyền tự do thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm, quyền tự do cư trú, đi lại v.v…Vì vậy, các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước ban hành không đúng thủ tục do luật định có thể bị đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ và người có trách nhiệm trong việc ban hành các quyết định đó có thể bị truy cứu trách nhiệm. Trong các văn bản pháp luật về thủ tục hành chính đều có những điều cụ thể về xử lý những người có thẩm quyền vi phạm các quy định của thủ tục hành chính.8 Nguyên tắc hạn chế số cấp xử lý : Nguyên tắc này rất quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với các thủ tục hành chính khi giải quyết các công việc cụ thể. Thực tiễn cho thấy việc giảm bớt số cấp xử lý thì nhiều công việc giải quyết được nhanh chóng, đơn giản hơn và hiệu qủa quản lý vì thế cũng được nâng cao hơn.