Chương 1. Giới thiệu vấn đề chính sách, Chương 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết, Chương 3. Phân tích vấn đề chính sách, Chương 4.
Kết luận, kiến nghị và hạn chế. Từ khóa: Thuế; Điều tra thuế; Thanh tra, kiểm tra thuế; Thất thu từ thuế; Tuân thủ thuế. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Việc tổ chức bộ phận điều tra thuế được đánh giá dựa trên kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế về sự tuân thủ của người nộp thuế. Chương này đưa ra một khung lý thuyết để đánh giá tuân thủ; giới thiệu những cách tiếp cận thực tế để đo lường mức độ tuân thủ và đưa ra lý thuyết phân tích nghiên cứu tính khả thi.1 Khái niệm về sự tuân thủ và cƣỡng chế tuân thủ Tuân thủ được hiểu là hình thức thực hiện những quy định bắt buộc của pháp luật, trong đó các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật kiềm chế những hành vi mà pháp luật cấm.
Từ khái niệm trên, việc tuân thủ thuế chính là việc chấp hành những quy định pháp luật về thuế của NNT và CQT. Trong phạm vi của luận văn này, khái niệm về sự tuân thủ thuế được hiểu và xem xét dưới góc độ là hành vi chấp hành những quy định của pháp luật về thuế của NNT. Tuân thủ pháp luật thuế của NNT thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế. Khi tính tuân thủ pháp luật thuế của NNT được nâng cao thì rõ ràng chính sách pháp luật thuế đã được ban hành và thực thi có hiệu quả, đạt được các mục tiêu mong muốn.
Suy cho cùng, tính đúng đắn hay tiên tiến của chính sách thuế, tính hiệu quả của công tác quản lý thuế thể hiện rất rõ ở thực trạng chấp hành pháp luật thuế và của NNT. Trong khi khái niệm về tuân thủ hoặc không tuân thủ khá đơn giản thì việc đo lường nó, đặc biệt là đo lường số thuế tiềm năng là khá khó khăn về mặt kỹ thuật. Về mặt lý thuyết, số thuế tiềm năng có thể được xác định theo ba cách khác nhau: Dự báo số thu sử dụng những số liệu vi mô và áp dụng cho mỗi sắc thuế (Phụ lục 1) Phân tích dữ liệu quản lý thuế để đo lường mức độ tuân thủ trong các chức năng chủ chốt, đặc biệt là khai thuế, tính thuế và nộp thuế Dựa trên báo cáo của người nộp thuế về mức độ tuân thủ -5- Để đo lường và đánh giá mức độ tuân thủ của NNT, mỗi quốc gia sử dụng các phương pháp, cách thức tiếp cận khác nhau. Theo quan điểm của Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế thuộc OECD, thì tính tuân thủ của NNT được chia thành 2 nhóm chính sau đây: Tuân thủ quy định hành chính (Administrative compliance): là việc NNT tuân thủ các quy định hành chính về việc kê khai, nộp thuế đúng hạn.
Tuân thủ kỹ thuật (Technical compliance): là việc NNT thực hiện tính toán và nộp thuế đúng theo quy định tại các điều của luật thuế.1: Các ƣớc tính mức độ tuân thủ * Tuân thủ về nộp tờ khai: Mức độ tuân thủ về nộp tờ khai có thể được chia thành ba chỉ số khác nhau. Đầu tiên là tuân thủ trong nộp tờ khai của người nộp thuế. Chỉ số này đo lường tỉ lệ giữa số tờ khai được nộp và số người nộp thuế thực tế được đăng ký tại cơ quan thuế. Các tờ khai được nộp có thể bao gồm cả tờ khai nộp đúng hạn và tờ khai chậm nộp.
Thứ hai, là tuân thủ trong việc nộp tờ khai đúng hạn, được đo bằng tỉ lệ giữa số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã được nộp. Và thứ ba là mức độ tuân thủ trong nộp tờ khai nói chung tổng hợp, là tỉ lệ giữa số tờ khai đã nộp đúng hạn chia cho tổng số người nộp thuế đã đăng ký. Mức độ tuân thủ kê khai nói chung tổng hợp này được ước tính là kết quả của hai chỉ số đầu tiên; * Tuân thủ về kê khai thuế: Mức độ tuân thủ về kê khai thuế là nói đến việc kê khai trung thực các khoản thu nhập chịu thuế, doanh thu, và sản lượng liên quan đến thuế trực thu hay thuế gián thu. Tuân thủ về kê khai thuế được định nghĩa là tỉ lệ giữa số thu nhập hay doanh thu kê khai với số thu nhập/doanh số được chờ đợi sẽ kê khai mong đợi.
Tuân thủ trong kê khai có thể được phát hiện trong quá trình tính và kế toán thuế; * Tuân thủ trong nộp thuế: Mức độ tuân thủ trong nộp thuế là nói đến việc nộp thuế đúng hạn. Mức độ tuân thủ này được định nghĩa là tỉ lệ giữa số nghĩa vụ thuế được nộp đúng hạn và toàn bộ số nghĩa vụ thuế mà của người nộp thuế phải nộp. (Nguồn: World Bank, 2011) Việc tuân thủ được xem xét trên hai vấn đề đó là tuân thủ tự nguyện và tuân thủ cưỡng chế. Trong giới hạn đề tài nghiên cứu, vấn đề tuân thủ được đi sâu và xem xét dưới góc độ tuân thủ cưỡng chế.
Theo Từ điển luật học (1999, tr. 24), thuật ngữ “cưỡng chế” được hiểu là những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định. Luật pháp bản thân nó đã -6- có tính cưỡng chế và đây là một đặc trưng cơ bản của pháp luật. Tính chất cưỡng chế làm cho pháp luật khác với đạo đức hay phong tục.
Tuy nhiên trên thực tế, tính chất cưỡng chế trong bản thân pháp luật không phải lúc nào cũng được đảm bảo. Do đó, nhà nước cần có những biện pháp khác để buộc các chủ thể phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, trong đó cần nhấn mạnh vai trò việc sử dụng công cụ cưỡng chế. Sự cưỡng chế cần hiểu là không chỉ nhằm mục đích trừng trị mà trước hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật. Sự cưỡng chế ở đây được thực hiện trên cơ sở luật pháp, trong khuôn khổ luật pháp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành.
Căn cứ vào khái niệm trên, có thể khái quát việc cưỡng chế tuân thủ pháp luật thuế là những biện pháp, công cụ của cơ quan thuế áp dụng buộc cá nhân, tổ chức người nộp thuế phải tuân thủ pháp luật về thuế do nhà nước ban hành. Việc cưỡng chế tuân thủ pháp luật thuế có những đặc điểm chung với cưỡng chế tuân thủ pháp luật nói chung về bản chất, chủ thể, cách thức và mục đích cưỡng chế.2 Trốn thuế, tránh thuế và thất thu thuế Trốn thuế và tránh thuế là hai nguyên nhân quan trọng nhất của việc không tuân thủ và làm thất thoát nguồn thu. Những biểu hiện hành vi này của NNT lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố có liên quan lẫn nhau, cả nguyên nhân chủ quan (chính sách thuế, năng lực của cơ quan thuế, tính hiệu quả và liêm chính và chi phí tuân thủ) lẫn nguyên nhân khách quan (hệ thống khiếu nại, độ trách nhiệm trong chi tiêu công, tham nhũng và quy mô của nền kinh tế phi chính thức). Theo Gordon, Jnr (1990) thì hoạt động bất hợp pháp tỷ lệ thuận với động cơ để cá nhân không kê khai thu nhập; hay nói cách khác tính chất bí mật của lợi nhuận càng cao thì càng có nhiều động cơ để người ta trốn thuế1.
Về mặt lý thuyết, viêc trốn thuế và tránh thuế là khác nhau, nhưng cả hai đều dẫn đến việc thất thu thuế, khiến hệ thống thuế bị kém công bằng, và làm bóp méo khuôn khổ cạnh tranh của thị trường. Xét dưới góc độ pháp lý thì trốn thuế là hoạt động phi pháp dưới hình thức không khai, khai giảm hoặc khai sai nghĩa vụ đóng thuế (tài sản hay thu nhập chịu thuế) còn tránh thuế là hoạt động hợp pháp của NNT bằng cách lợi dụng khe hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ đóng thuế (Vũ Thành Tự Anh, 2012). 1 Bên cạnh những động cơ hiển nhiên của việc giữ lại tiền, còn có những vấn đề cơ bản khác về lý do khiến một số người không nộp thuế: Đầu tiên là vấn đề về văn hóa, ví dụ về tình trạng vô trật tự tại Ấn Độ trong bài viết của Upandra Baxi (1982); Thứ hai là vấn đề tuân thủ tương đối; trong một số trường hợp, một số luật nào đó có thể bị bỏ qua xem thường nếu hoạt động bị cấm không đụng chạm với các quy định xã hội. Tài liệu đọc của Oldman (1965).
-7- Việc thất thu thuế xuất phát từ chính sách thuế chưa hoàn thiện, tạo ra kẽ hở cho người nộp thuế cũng như do chính việc quản lý, thực thi chính sách của cơ quan công quyền. Việc thực thi công vụ chưa hiệu quả dẫn đến thất thu thuế là do bộ máy quản lý của CQT, do trình độ của cán bộ thuế hoặc do quy trình làm việc của cơ quan thuế chưa khoa học. Các nghiên cứu về mức độ tuân thủ thuế đã chỉ ra mối liên hệ nghịch biến giữa mức độ tuân thủ thuế và thất thu thuế. Mức độ tuân thủ thuế của NNT ở một quốc gia càng thấp thì mức độ thất thu thuế của quốc gia đó càng cao và ngược lại.
Mức độ tuân thủ thuế thể hiện việc trốn thuế và tránh thuế của NNT, do đó để nâng cao mức độ tuân thủ thuế và hạn chế thất thu thuế từ việc trốn thuế và tránh thuế, CQT ngoài việc nâng cao ý thức nộp thuế của người dân thông qua công tác tuyên truyền và thực thi quyền giám sát của người dân thì chính bộ máy của CQT cần tăng cường công tác giám sát của mình thông qua việc nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế cũng như điều tra thuế.1: Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc không tuân thủ và làm thất thoát nguồn thu Yếu tố chủ quan Yếu tố khách quan Chính sách thuế Trách nhiệm Hành vi của ngƣời nộp thuế giải trình trong chi tiêu công Tránh thuế Trốn thuế Quản lý thuế (Năng lực, Hiệu Tham nhũng quả, liêm chính) Mức độ không tuân thủ Thất thoát nguồn thu Chi phí tuân thủ Nền kinh tế phi chính thức Nguồn: Cải cách thuế ở Việt Nam, WB (2011), Trang 63 2.