Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế tài nguyên 1. Thuế tài nguyên 1. Khái niệm thuế tài nguyên - Khái niệm thuế Theo Luật Quản lý thuế được Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 13 tháng 06 năm 2019 thì “Thuế là một khoản nộp NSNN bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế.
- Khái niệm thuế tài nguyên Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các nguồn năng lượng, nguyên liệu, vật liệu tự nhiên có trên trái đất, trong không gian mà con người có thể khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống, sự phát triển của mình và của xã hội. Tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản của quốc gia, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý. Đối với các quốc gia có nguồn TNTN phong phú nếu quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả thì nó là nguồn lợi lớn và lâu dài cho sự phát triển của quốc gia đó. Ngược lại, nếu việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng phí, sẽ gây ra hậu quả xấu không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của quốc gia đó.
Để bảo đảm việc bảo vệ khai thác, sử dụng TNTN đạt hiệu quả, tránh việc khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, các quốc gia thường sử sụng nhiều công cụ và biện pháp quản lý khác nhau. Công cụ tài chính là một trong những công cụ quan trọng để quản lý tài nguyên, trong đó có việc thu thuế đối với hoạt động khai thác TNTN, đó chính là TTN. Như vậy, có thể hiểu: TTN là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho NSNN để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên nhằm phát triển kinh tế xã hội bền vững. Đặc điểm TTN - TTN là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý.
- TTN đánh trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên. - TTN được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền TTN. - Đối tượng nộp TTN: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích sử dụng tài nguyên. Nội dung cơ bản của thuế tài nguyên Theo Luật Thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009, một số nội dung cơ bản của thuế tài nguyên như sau: a.
Đối tượng chịu thuế - Khoáng sản kim loại. - Khoáng sản không kim loại. - Khí thiên nhiên, khí than. - Sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật.
- Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển. - Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất. - Yến sào thiên nhiên. - Tài nguyên khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
Đối tượng nộp thuế NNT tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu TTN. NNT tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau: - Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là NNT; - Bên Việt Nam và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; 7 - Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là NNT (Luật Thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12). Căn cứ tính thuế Căn cứ tính TTN là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất. Số thuế tài Thuế tài Sản lượng Giá tính thuế Thuế nguyên được nguyên phải = tài nguyên × đơn vị tài × - suất miễn, giảm nộp trong kỳ tính thuế nguyên (nếu có) d.
Sản lượng tài nguyên tính thuế Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế. Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại. Đối với tài nguyên khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm. Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận.
8 Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam. Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm có giá trị dưới 200.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế. Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế (Luật Thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12). Giá tính thuế Giá tính TTN là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán thì giá tính TTN được xác định theo một trong những căn cứ sau: - Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quy định; - Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Giá tính TTN trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau: - Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân; - Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao; trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao thì giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định; - Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là giá xuất khẩu; 9 - Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là giá bán tại điểm giao nhận. Điểm giao nhận là điểm được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí mà ở đó dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được chuyển giao quyền sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế đối với tài nguyên chưa xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, trừ dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện (Luật Thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12).
Thuế suất Thuế suất TTN là căn cứ rất quan trọng, thể hiện quyền quản lý, điều tiết của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia, là tỷ lệ huy động của Nhà nước đối với người khai thác tài nguyên, đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý các nguồn tài nguyên, tạo lập nguồn tài chính duy trì, nuôi dưỡng, tái tạo, phát triển các nguồn tài nguyên đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế một cách ổn định, bền vững. Nhà nước căn cứ vào yêu cầu quản lý Nhà nước, căn cứ tính chất, đặc điểm, giá trị sử dụng, mục đích sử dụng của loại tài nguyên, nhu cầu, tập quán sinh sống của dân cư. để quy định các mức thuế suất TTN phù hợp, đảm bảo đời sống kinh tế xã hội ổn định và phát triển (Luật Thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12). Vai trò của thuế tài nguyên Tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý.
Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên chắc chắn sẽ xảy ra nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo. Cho nên, yêu cầu đặt ra là phải khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có, nuôi dưỡng, bảo vệ các nguồn tài nguyên tái sinh. Nhà nước thông qua nhiều công cụ khác nhau để bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên, trong đó có công cụ tài chính đó là chính sách TTN. Chính vì thế TTN có vai trò: - TTN đảm bảo nguồn thu cho NSNN để chi phí cho việc cải tạo môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng nơi khai thác tài nguyên và các khoản chi khác.
Số thu hàng năm từ TTN của cả nước chiếm trên dưới 10% trong tổng thu NSNN hàng năm. TTN (trừ dầu thô) là khoản thu điều tiết 100% cho ngân sách 10 địa phương.