CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ 1.1 Tổng quan về thuế, quản lý thu thuế 1. Khái niệm về thuế, quản lý thu thuế 1.1 Khái niệm về thuế Cho đến nay tất cả những nền kinh tế thị trường trên toàn cầu cũng không có nhất trí hoàn toàn đối với khái niệm thuế. Đứng trên những khía cạnh khác nhau theo những quan niệm của mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những khái niệm thuế khác nhau như: "Thuế là một công cụ đặc thù, theo đó nhà nước thực hiện quyền đặc thù của mình nhằm thu hút một bộ phận nguồn lực tư vào lĩnh vực nhà nước nhằm thực hiện những chức năng kinh tế - Tài chính của nhà nước". [16] "Thuế là sự phân phối và phân phối hợp lý tổng sản phẩm xã hội và quốc dân nhằm tạo lập quỹ tài chính tổng hợp của nhà nước nhằm đáp ứng những nhu cầu chi tiêu đối với việc thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước".[2] Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 3/6/2008: "Thuế thu nhập là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi một tập thể và công dân đều có trách nhiệm đóng vào nhà nước theo luật định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu đối với việc thực hiện những chức năng, quyền hạn của nhà nước".[14] Như vậy, xét trên mỗi khía cạnh khác nhau thì khái niệm về thuế cũng khác nhau.
Dưới góc nhìn tổng quát trong quản lí Tài chính công có thể hiểu khái niệm về thuế như thế này: "Thuế là một biện pháp huy động bắt buộc của Nhà nước, trong phạm trù phân phối, nhằm tập hợp một phần tài sản của những chủ thể và tổ chức trở lại NSNN nhằm đáp ứng những nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và vì các mục đích chung".2 Khái niệm về Quản lý thu thuế Theo tác giả Hoàng Thị Thuý Nguyệt và TS. Đào Thị Bích Hạnh đã định nghĩa về quản lý thu thuế là: "Quản lý thu thuế được hiểu là quá trình các cơ 8 quan thu lập kế hoạch và tổ chức thực hiện theo dõi, kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch thu thuế. Cũng tương tự với quản lý thu thuế thì quản lý thu thuế có thể được hiểu là quá trình can thiệp của cơ quan thuế lên những nghĩa vụ thuế bằng việc lập kế hoạch thu, tổ chức triển khai kế hoạch thu và theo dõi, giám sát, đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch thu thuế”.2 Đặc điểm của thuế Thuế là một khoản thu bắt buộc Tính bắt buộc của thuế là quy luật tất yếu bắt nguồn từ đặc điểm của hàng hoá công cộng. Đặc trưng của hàng hoá công là dùng chung và không có tính bắt buộc, trừ trường hợp Nhà nước là chủ thể chính cấp phần lớn hàng hoá công cộng cho nhân dân để tạo sự thoả dụng tối ưu cho xã hội.
Song, không ai chịu chi trả phí đối với sự hưởng các hàng hoá công mà Nhà nước cung ứng từ quân sự đến trị an, từ dịch bệnh và môi trường sinh thái v. Vì vậy, nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư cộng thì tất nhiên Nhà nước phải dùng quyền lực của mình (Quyền lực nhà nước đặc thù) nhằm bắt buộc những chủ thể và pháp nhân cần có nghĩa vụ đóng thuế đối với Nhà nước. Tính bắt buộc của thuế được thể hiện qua những văn bản pháp luật về thuế phản ánh tính bắt buộc cao của thuế và không tuỳ ý đối với vấn đề thu thuế và trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế. Nhà nước xác định và ban hành những Chính sách thuế và thiết lập bộ máy quản lí thu thuế để bắt buộc những chủ thể và tổ chức có nghĩa vụ nộp theo đúng pháp luật.
Quy định rõ các hình thức xử phạt với từng hành vi sai phạm pháp luật về thuế. Thuế là khoản thu không hoàn trả trực tiếp Thuế không gắn kết chặt chẽ với lợi ích cá nhân của người nộp thuế mà thông qua việc sử dụng những hàng hoá dịch vụ do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế, không có nghĩa vụ yêu cầu Nhà nước phải cung cấp thêm cho bản thân một số lượng hàng hoá nhất định nào đó hoặc hoàn trả khoản thuế đã nộp theo luật định. Mức độ chuyển thu nhập của từng thể nhân 9 và pháp nhân đối với Nhà nước thông qua thuế được quyết định trên cơ sở tình hình kinh tế xã hội, chiến lược phát triển quốc gia và nhu cầu thuế của đất nước trong mỗi thời kỳ nhất định.
Đặc điểm trên góp phần phân biệt thuế với những khoản thu phí và lệ phí của NSNN. Phí và lệ phí cũng là các khoản thu mang tính bắt buộc của NSNN, tuy nhiên tính bắt buộc của phí và lệ phí gắn bó chặt chẽ với việc sử dụng và hưởng lợi ích đối với các dịch vụ công cụ thể mà Nhà nước cung cấp. Thuế là một khoản thu của Nhà nước mang tính hoàn trả trung gian. Sự hoàn trả còn được thực hiện thông qua việc người dân hưởng lợi ích từ loại hàng hoá dịch vụ mà Nhà nước cung cấp.
Thuế là một phương thức phân phối của cải xã hội bao gồm các nguồn lực tài chính - kinh tế - xã hội. Nhà nước thu thuế bản chất là Nhà nước can thiệp vào phân phối thu nhập của các thể nhân và pháp nhân để tập hợp một phần của cải xã hội vào ngân sách nhằm điều chỉnh thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp bảo đảm tính bình đẳng thu nhập trong xã hội. Thuế có mối quan hệ chính trị vì Nhà nước dùng quyền lực chính trị chủ yếu nhằm bắt buộc những thể nhân và pháp nhân có trách nhiệm nộp thuế. Thuế có mối quan hệ kinh tế vì mức đóng góp vào ngân sách qua thuế tuỳ thuộc từng giai đoạn của tăng trưởng kinh tế; kinh tế phát triển hay suy giảm ảnh hưởng lên mức thu thuế; ví dụ như thuế TNDN.
Nộp thuế gây mất thu nhập ĐTNT do đó, thuế tác động vào chi tiêu, mua sắm và đầu tư toàn xã hội. Thuế có mối quan hệ xã hội: Thuế là một biện pháp kinh tế đặc biệt nhằm phân phối và phân phối công bằng thu nhập quốc dân. Do vậy, thuế mang tính công bằng cao đối với xã hội. Nhận thức được những đặc điểm của thuế có thể thấy chính sách thuế phải hai hòa với lợi ích; thông qua chính sách thuế có thể thấy được thể chế bộ máy nhà nước; do đó khi đưa ra những chính sách thuế phải xem xét tác động của nó tới hiệu quả và công bằng.
Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 1.1 Tập trung nguồn lực tài chính vào ngân sách Nhà nước Nhà nước muốn tồn tại và thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình yêu cầu phải có nguồn lực Tài chính nhất định “Tài chính công là những hoạt động thu, chi gắn với các quỹ tiền tệ của các cấp chính quyền nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà Nước”. Thông qua khái niệm Tài chính công nhận thấy giữa Nhà nước và Tài chính công có mối quan hệ khăng khít với nhau; Tài chính công huy động, tập trung nguồn lực tài chính cho Nhà nước đảm bảo Nhà nước thực hiện chức năng của mình. Thuế là hình thức huy động nguồn lực Tài chính chủ yếu và hiệu quả nhất cho NSNN. Thuế là kết quả của hoạt động kinh tế xã hội, nguồn thu từ thuế chiếm đến 80% tổng thu NSNN.2 Công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, tuỳ theo tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn, Nhà nước sẽ linh hoạt điều chỉnh chính sách thuế suất để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh của nền kinh tế quốc gia như điều chỉnh nền kinh tế và cơ cấu kinh tế theo thời kỳ và theo phân vùng địa lý về giá, tiêu dùng và lao động, công ăn việc làm, xuất khẩu và phân bổ lại thu nhập theo tổng cung và tổng cầu,.
Sự phát triển của nền kinh tế luôn mang tính chu kỳ. Trong giai đoạn nền kinh tế phục hồi thì Nhà nước sẽ giãn hoặc cắt giảm thuế nhằm hỗ trợ và kích thích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhằm duy trì sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang có giai đoạn tăng trưởng rất cao có khả năng mất cân đối và mất ổn định thì nhà nước tăng thuế để khuyến khích đầu tư nhằm bảo đảm sự cân đối và duy trì ổn định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Bằng cách miễn, giảm thuế Nhà nước có thể khuyến khích phát triển kinh tế theo ngành, vùng lãnh thổ.
Chẳng hạn như giảm thuế đối với cơ sở tham gia xã hội hóa Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, y tế; giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp để khuyến khích phát triển nông nghiệp;… 11 Chính sách thuế tác động chủ yếu lên thu nhập của ĐTNT và do đó điều chỉnh chính sách thuế tác động lên tiêu thụ và sản xuất, đầu tư. Đồng thời cũng có tác động lên tỷ giá, lạm phát và lãi suất thông qua điều chỉnh chính sách nhập khẩu để bảo vệ tiêu dùng trong nội địa và điều chỉnh thu nhập của từng thành phần kinh tế giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng về thu nhập đối với xã hội. Tuy vậy vì thuế có tác động đối nghịch song song với những chỉ tiêu kinh tế - xã hội vĩ mô cho nên việc dùng chính sách thuế trong điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thì Chính phủ cũng cần cân nhắc cẩn trọng tác động tổng thể của sự điều chỉnh chính sách thuế đối với những chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác. Giữa vai trò thu hút nguồn vốn và vai trò ổn định vĩ mô nền kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Tuy nhiên việc thực hiện hai vai trò trên không phải bao giờ cũng nhận được sự đồng tình vì là tính chất hai mặt của thuế nên tuy có tác động tốt đối với nền kinh tế nhưng cũng có tác động rất xấu. Nguyên tắc quản lý thu thuế Thứ nhất, Bình đẳng, công khai và minh bạch Quản lý thu thuế là một trong các nhiệm vụ trọng tâm về quản lý Kinh tế nhà nước. Hơn nữa, thuế còn gắn bó với lợi ích chung của cả xã hội lại còn ảnh hưởng sâu sắc đối với lợi ích của từng cá thể và tổ chức toàn xã hội. Vì vậy việc quản lý thu thuế cũng luôn cần tuân thủ tính minh bạch, công khai và rõ ràng.