Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO 1. Khái quát chung quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam 1. Khái niệm, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo Thứ nhất: Khái niệm quản lý Thuật ngữ “Quản lý” đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập với nhiều cách hiểu khác nhau song thống nhất ở hai nội dung chủ yếu: Quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý; Mục tiêu của quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước.
Thứ hai: Khái niệm quản lý nhà nước Theo Wikipedia: Quản lý (hành chính) nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì an ninh trật tự, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân [36]. Thứ ba: Khái niệm tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử, có hàng trăm khái niệm về tôn giáo từ thời trước khi xuất hiện đạo Kito đến nay.Mác chỉ ra nguồn gốc của tôn giáo:…không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính là con người sáng tạo ra tôn giáo…, Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.Ăngghen trong tác phẩm chống “Đuyrinh” đã nêu: “…Tất cả mọi tôn 8 giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người” [24, tr. Những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản pháp luật quản lý nhà nước về tôn giáo chưa có tài liệu nào giải thích cụ thể về khái niệm này.
Thuật ngữ “Tôn giáo” xuất phát từ tiếng Latin (Relegere), nghĩa là: thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Theo từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học chủ biên xuất bản năm 2005 thì “tôn giáo” là “1. Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ; 2. Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay những vị thần linh nào đó và những lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy”.
Do đó, để nêu khái niệm tôn giáo hoàn chỉnh cần xét ba dấu hiệu cơ bản sau: 1/ Nói đến Tôn giáo là nói đến cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí; 2/ Có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và giáo sản; 3/ Có tổ chức hoạt động từ Giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ. Thứ tư: Hoạt động tôn giáo Khoản 11 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 đã khẳng định “ Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo” – hay nói cách khác đó là các hoạt động truyền đạo, hành đạo và quản đạo của tôn giáo. Thứ năm: Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo Từ bốn khái niệm đã trình bày ở phần trên, ta có thế nhìn nhận khái niệm QLNN về tôn giáo là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dưng – bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Nhà nước quy định bằng pháp luật các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa các công dân, các tổ chức tôn giáo trước pháp luật, hình thành khung pháp 9 lý, làm cơ sở để các tôn giáo thực hiện hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật.
Mô tả bức tranh về tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay, có thể thấy: Việt Nam có thể coi là bảo tàng về tôn giáo, tín ngưỡng của thế giới. Ở đây có các tín ngưỡng truyền thống phong phú như đồng, cốt, xem bài, xóc thẻ, thờ cúng tổ tiên, thần, thánh và các biểu tượng linh thiêng; các tôn giáo từ nguyên thủy đến hiện đại, có tôn giáo ngoại nhập như Công giáo, Hồi giáo, Tin lành, Phật giáo, Baha‟I…, có tôn giáo nội sinh như Cao đài, Hòa hảo, Tứ ân hiếu nghĩa, Bửu sơn kỳ hương… Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ: tính đến đầu năm 2019, Nhà nước ta đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo với hơn 26.396 cơ sở thờ tự tôn giáo, trong đó Phật giáo khoảng hơn 10 triệu tín đồ, Công giáo hơn 6 triệu tín đồ, Cao đài 2,4 triệu tín đồ, Hòa hảo 1,2 triệu tín đồ, tin lành 1,7 triệu tín đồ, Hồi giáo khoảng hơn 100. Theo đánh giá của cơ quan có thẩm quyền thì: cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, phát triển và hội nhập thì hoạt động tôn giáo trên cả nước diễn ra ổn định, cơ bản tuân thủ chính sách, pháp luật. Các Tôn giáo hoạt động theo đúng nội dung về tôn chỉ, giáo lý, giáo luật, giáo sản, giáo sỹ, hiến chương, quy chế và có nhiều đóng góp tích cực, ý nghĩa về văn hóa – tinh thần – giáo dục – y tế … với xã hội, mang lại nhiều thành quả thiết thực “tốt đời, đẹp đạo”, xây dựng cuộc sống tốt đẹp và bảo vệ những chuẩn mực chân, thiện mỹ, những giá trị nhân văn cũng như giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc; xây dựng và bảo vệ tổ quốc… Tuy nhiên, bên cạnh đó, ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường cũng dẫn đến hiện tượng trong các tôn giáo có phát sinh mâu thuẫn nội bộ liên quan đến bất đồng quan điểm, tranh chấp quyền lợi; một số hiện tượng tu sỹ không giữ đạo hạnh, vi phạm giới luật hoặc có những hoạt động có dấu hiệu lệch chuẩn.
Bên cạnh đó, nhiều thế lực chính trị muốn lợi dụng tôn giáo và hoạt động tôn giáo, lợi dụng vấn đề về nhân quyền để kích động nhân dân, chống phá nhà nước ta bằng những luận điệu xuyên tạc liên quan chủ yếu đến vấn đề bình 10 đẳng giữa các tôn giáo, vấn đề nhà nước quản lý tôn giáo làm hạn chế quyền tự do tôn giáo. là những thực trạng không thể tránh khỏi, đòi hỏi công tác tôn giáo không chỉ đơn thuần là công tác QLNN về tôn giáo của cơ quan chuyên môn mà phải là công tác của cả hệ thống chính trị. QLNN về tôn giáo có các đặc điểm cơ bản sau: - Về chủ thể quản lý: Chủ thể QLNN đối với hoạt động tôn giáo bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp bao gồm: Chính phủ, UBND các cấp, ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Nội vụ (Ban Tôn giáo Chính phủ); Bộ Công an; Bộ Xây dựng; Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hiện nay, trên thế giới, với bất kỳ mô hình nhà nước nào, ở đâu có tôn giáo thì ở đó có sự QLNN về tôn giáo với ý nghĩa Nhà nước thực hiện chức năng của mình.
Tùy theo chính thể và mô hình khác nhau mà mỗi quốc gia đều có sự điều chỉnh khác nhau về chế độ quản lý nhà nước về tôn giáo. Hiện nay trên thế giới có 4 hình thức quản lý nhà nước về tôn giáo: Mô hình nhà nước lấy Tôn giáo là quốc đạo; Mô hình nhà nước lấy 1 tôn giáo là quốc đạo và các tôn giáo khác được tôn trọng, bình đẳng; Mô hình nhà nước thế tục và Mô hình nhà nước vô thần - Khách thể quản lý: Đó chính là hoạt động của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, người tu hành và tín đồ 1. Vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam QLNN về tôn giáo là một yêu cầu khách quan. Tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận đông đảo nhân dân.
Hoạt động tôn giáo không chỉ là hoạt động mang tính nội bộ của tôn giáo mà nó luôn gắn bó mật thiết với sự tồn tại, vận động và phát triển của tổng hòa các mối quan hệ trong xã hội, do đó, ở bất cứ quốc gia nào, nhà nước nào, yêu cầu QLNN về tôn giáo không chỉ xuất phát từ ý chí của nhà nước mà còn xuất phát từ thực tế khách quan của sự hình thành, tồn tại, phát triển và những ảnh hưởng của tôn giáo trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một 11 thực thể xã hội, tôn giáo luôn biến động, phản ánh sự biến đổi của lịch sử nhân loại và ra đời từ những tiền đề kinh tế - xã hội, từ nguồn gốc tâm lý và nhận thức của con người. Khi những nguồn gốc làm phát sinh tôn giáo chưa được giải quyết, tôn giáo vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng thế giới quan, chức năng liên kết cộng đồng, chức năng đền bù hư ảo, điều chỉnh hành vi đạo đức và mục tiêu sống của con người. Bên cạnh ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội thì tôn giáo có nhiều khả năng làm lệch lạc nhận thức thế giới quan, dễ dàng bị kẻ xấu lợi dụng vì mục đích chính trị đen tối và có thể đẩy con người đến chỗ nghi kị, hận thù, xung đột, đối kháng gây nên những thảm họa cho nhân loại.
QLNN về tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực trong tôn giáo, từ đó tạo ra môi trường pháp lý – chính trị - kinh tế - xã hội tốt nhất cho người có đạo, cho các tổ chức tôn giáo, cho cộng đồng và cho nhà nước. Do đó, QLNN về tôn giáo có những vai trò như sau: - QLNN về tôn giáo luôn giữ vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, nhà nước; góp phần củng cố, phát huy khối đại đoàn kết dân tộc; giữ vững an ninh quốc phòng.