Chương 1: HO BIEU CHÁNH VA QUA TRÌNH CAI BIEN TIỂU THUYET NHUNG NGUOI KHON KHO (VICTOR HUGO) SANG NGON CO GIO DUA Trong chương này, chúng tôi nghiên cứu về khái niệm “cải biên” (adaptation), những vẫn đề xung quanh thuật ngữ “cải biên”, nghiên cứu “cải biên” với tư cách là sản phẩm cũng như quá trình. Luận văn tìm hiểu sức hút của việc cải biên tác phẩm kinh điển Những người khốn khổ cũng như tìm hiểu các vẫn đề khi xem xét Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh với tư cách một tác phẩm cải biên. Những người khốn khổ của Victor Hugo đã khang định giá tri của một tác phẩm văn học kinh điển. Tác phẩm được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, cải biên thành tác phẩm điện ảnh, những vở nhạc kịch, vở múa ballet trên khắp thế giới.
Ở Việt Nam, việc tiếp nhận thiên tiểu thuyết này cũng được diễn ra trên nhiều lĩnh vực, cả dịch thuật, phóng tác và cải biên. Trong đó, Hồ Biéu Chánh được nhìn nhận là nhà văn tiên phong với Ngon cỏ gió đùa. Đặc biệt hơn, chính tiểu thuyết Ngon cỏ gió đùa trở thành cảm hứng cho các tác giả cải biên thành các loại hình nghệ thuật khác như các vở cải lương, các bộ phim điện ảnh, truyền hình. Về khái niệm cải biên Các nhà nghiên cứu đã dé cập đến khái niệm adaptation trong các công trình của mình.
Có thé ké đến những công trình như: Literature and Film: A guide to theory and practice of film adaptation cua Robert Stam va Alessandra Raengo (Blackwell Publishing); The Encyclopedia of Novels into Film của John C. Tibbetts va James M.Welsh (Facts on File, Inc, 2005); A theory of adaptation của Linda Hutcheon (Routledge, 2006); The Literature/Film Reader — Issues of adaptation cua James M.Welsh va Peter Lev (The Scarecrow Press, Inc, 2007). Khái niệm “cải biên” đã được tác giả Đào Lê Na phân tích trong cuốn sách Chân trời của hình ảnh — Từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurosawa 10 Akira (NXB Đại học Quốc gia TPHCM, 2017). Thuật ngữ adaptation được Đào Lê Na diễn giải thành thuật ngữ “cải biên” với việc chỉ ra các nội hàm khái niệm dé có thé bao quát được sự chuyền đổi trong cùng một loại hình nghệ thuật cũng như sự chuyền đổi liên kí hiệu giữa các loại hình nghệ thuật khác nhau.
Tác giả của cuốn sách cho rằng khi chuyên nghĩa adaptation thành “chuyển thể” sẽ thấy một sự mặc định chỉ khuôn hẹp trong việc nghiên cứu chuyền thé từ thé loại này sang thé loại khác. Theo Đào Lê Na, tác giả cải biên trong cùng một mã kí hiệu hoặc chuyên đổi sang các kí hiệu và loại hình nghệ thuật khác sẽ đồng thời là người tái sáng tạo, tạo nên “quy trình kép”, “bản chất kép” gắn liền với sự giải mã và sáng tạo cái mới của tác phẩm cải biên. Khi gọi một tác phẩm là tác pham cải biên đồng nghĩa với việc tuyên bố mối quan hệ công khai của nó với một hoặc một vài tác phẩm khác. Ngay cả các tác giả cải biên, họ cũng thừa nhận mối quan hệ này qua cụm từ “based on the”.
Linda Hutcheon viết: “Tác phẩm cải biên là sự phái sinh mà không có tính phái sinh — một tác phẩm đến sau mà không phải thứ yếu. Nó là chất liệu của chính mình” [16; tr. Đây là lý do vì sao các nghiên cứu về tác phẩm cải biên thường là các nghiên cứu so sánh. Tuy có nhiều điểm tương đồng nhưng độc giả dễ dàng nhận ra tính độc lập, bản sắc riêng của tác pham cải biên.
Quyền A theory of adaptation cũng dan ra ví dụ về trường hop cải biên: “Khi Neil Jordan và Angela Carter cải biên truyện ngắn The company of wolves của Carter vào năm 1984, ho thêm vào các chỉ tiết từ hai câu chuyện khác có liên quan trong cuốn The bloody chamber (1979) của Carter: The werewolf va Wolf Alice. Linda Hutcheon dan chứng riêng về lĩnh vực điện ảnh: “Theo số liệu của năm 1992, 85% các tác phẩm đoạt giải Oscar phim hay nhất lại là các tác phâm chuyền thé. Tác phẩm chuyên thé chiếm 95% phim truyền hình ít tập và 70% các phim đã phat sóng trên truyền hình theo từng tuần đã thang giải Emmy” [16; tr. Nhiều tác phẩm 11 văn học phương Tây trở thành nguồn tài nguyên quý giá của điện ảnh, như: Kiêu hãnh và định kiến (lane Austen, 1§13), Chiến tranh và hòa bình (Lev Tolstoy, 1865), Cuốn theo chiêu gió (Margaret Mitchell, 1936), Giét con chim nhại (Harper Lee, 1960), Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey, 1962), Bồ già (Mario Puzo, 1969).
Trong lịch sử của điện ảnh Việt Nam, đã có một số tiểu thuyết, truyện ngắn của văn học Việt Nam được chuyên thé thành các bộ phim nghệ thuật, phim nhiều tập và gan đây nhất là sự “trỗi dậy” của trào lưu phim chuyển thé. Có thé ké đến các phim như: Chị Dậu (chuyên thé từ tiểu thuyết Tat đèn của Ngô Tất Tố), Vợ chồng A Phú (dựa trên tác phẩm cùng tên của Tô Hoài), Me văng nhà (chuyền thé từ tác pham cùng tên của Nguyễn Thi), Làng Vii Đại ngày dy (chuyền thé từ một số truyện ngắn của Nam Cao), Mê Thảo - thời vang bóng (chuyên thé từ tác phẩm Chia Đàn của Nguyễn Tuân), Bến không chồng (chuyên thể từ tác phẩm cùng tên của Dương Hướng), Thời xa văng (chuyên thể từ tác phẩm cùng tên của Lê Lựu), Mùa len trâu (chuyên thể từ tác phẩm Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam). Ngoài ra còn có Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Cô gái đến từ hôm qua, Mat biếc là những bộ phim chuyên thé từ tiêu thuyết cùng tên của Nguyễn Nhật Ánh. Đó là những bộ phim gây được tiếng vang lớn, được chuyền thé từ các tác phẩm văn học Việt Nam tiêu biểu ở các thời kỳ khác nhau.
Trong năm 2021, có 2 tác phẩm điện ảnh được công chiếu cảm hứng từ tác phẩm Truyện Kiểu của Nguyễn Du là Kiéu của đạo diễn Mai Thu Huyền và Kiểu @ của đạo diễn Đỗ Thành An được công chiếu. Kiểu @ xây dựng bối cảnh phim ở thời hiện đại của thé kỷ XXI, được giới phê bình nhận xét thực chất là chuyên thé từ vở cải lương Nửa đời hương phẩn. Trên thực té, Nửa đời hương phan cũng là tác pham lay cảm hứng từ Truyện Kiều nhưng hành động cải biên này trước đây cũng nhận nhiều ý kiến đánh giá đa chiều từ giới phê bình nghệ thuật. Với Kiểu do Mai Thu Huyền đạo diễn, tác giả chọn một lát cắt trong cuộc đời Thúy Kiều để đưa lên màn ảnh.
Đó là giai 12 đoạn Kiều được Thúc Sinh cứu khỏi lầu xanh và đối mặt với cơn ghen từ Hoạn Thư. Chọn lát cắt trong một tác phẩm văn học đồ sộ dé chuyền thé là lựa chon hợp lý của nhiều nhà làm điện ảnh tuy nhiên bộ phim không đạt được tiêu chí đặt ra ban đầu của ekip làm phim. Trước đó, năm 2007, Sai Gòn nhật thực của đạo diễn Othello Khánh có sự tham gia diễn xuất của Trương Ngọc Ánh vào vai Kiều. Phim đưa nhân vật vào thời hiện đại, là một nữ diễn viên nồi tiếng nhưng vẫn rơi vào cảnh bán mình để trả nợ cho gia đình.
Các nhân vật Kim, Trọng Hải, bà Tú. được cải biên từ Kim Trọng, Từ Hải, Tú Bà. Hai bộ phim khi ra mắt tạo ra nhiều luồng dư luận với những cung bậc cảm xúc khác nhau từ giới chuyên môn và khán giả đại chúng. Dù các nhà làm phim thường chỉ nhận "phóng tác, lay cảm hứng" chứ không "chuyên thé" hoàn toàn nội dung từ nguyên tác, tuy nhiên điểm chung của các bộ phim là phải đón nhận nhiều phản ứng trái chiều từ khán giả và giới phê bình, doanh thu của phim cũng từ đó mà không đạt theo tiêu chí đề ra của nhà đầu tư hay đơn vị sản xuất.
Có thé nói, tác phẩm cải biên có mặt ở khắp các phương tiện truyền thông, từ tivi đến rạp chiếu phim, trên các sân khấu nhạc và kịch, trong những bộ truyện tranh hay thậm chí là các công viên giải trí. Người ta thực hiện việc cải biên bằng cách khai thác, sàng lọc những yếu tố cơ bản của để sáng tạo ra một tác phẩm mới. Họ đã làm sống dậy những điều họ đọc được bằng cảm quan của mình, bằng tư duy sáng tạo của minh và bằng cảm xúc, bang văn hóa của riêng mình. Nhu vậy, thực ra quá trình cải biên cũng được coi là một sự đồng sáng tạo, tái sáng tạo.
Thông qua tác phâm cải biên, chúng ta cũng thay được phong cách của người cải biên. Bên cạnh đó, dé tra cứu thuật ngữ nay, chúng tôi có tham khảo thêm các mục từ trong từ điển. Trong từ điển Oxford, “adaptation” (động từ “adapt”) có hai định nghĩa liên quan đến nội dung đề tài: ý nghĩa thứ nhất, chỉ một bộ phim, cuốn sách, vở kịch được dựa trên một phần của tác phẩm nhưng đã được thay đổi cho phù hợp); ý nghĩa thứ hai, chi quá trình thay đổi dé phù 13 hợp với điều kiện mới [39; tr. Theo Tờ điển tiếng Việt, “cải biên: sửa đôi hoặc biên soạn lại (thường nói về tác phẩm nghệ thuật) cho phù hợp với yêu cầu mới” [28; tr.142]; “chuyên thê: chuyên tác phẩm văn học thành kịch bản sân khấu hoặc điện ảnh” [28; tr.
255]; “phóng tác: phỏng theo nội dung của một tác pham và viết lại thành một tác phẩm khác theo một yêu cầu nhất định” [28; tr. Theo Tir điển tiếng Việt, “cải biên: sửa đổi hoặc biên soạn lại (thường nói về tác phẩm nghệ thuật) cho phù hợp với yêu cầu mới” [28; tr. 142]; “chuyền thé: chuyền tác phẩm văn học thành kịch bản sân khấu hoặc điện ảnh” [28; tr. 255]; “phóng tác: phỏng theo nội dung của một tác phẩm và viết lại thành một tác phẩm khác theo một yêu cầu nhất định” [28; tr.
Nếu cho rang thuật ngữ “phóng tác” và “chuyên thể” dường như quen thuộc với người Việt hơn “cải biên” có lẽ không sai. Chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm bằng cách gõ các từ khóa tương ứng vào thanh công cụ tìm kiếm của Google, kết quả thu được (truy cập ngày 26/4/2021): “chuyên thể” khoảng 325.000 kết quả trong 0,46 giây; “phóng tác” khoảng 72.000 kết quả trong 0,42 giây; “cải biên” khoảng 69. 000 kết quả trong 0,37 giây. Dé làm rõ định luận điểm ma Linda Hutcheon đã nêu trong công trình A theory of adaptation: “cải biên như là một quá trình” va “cải biên như là một sản phẩm”, chúng tôi tiến hành việc đối chiếu sản phẩm của cải biên với sản phẩm của “phỏng dịch”, “tập cổ” và “nhại”.
Nếu quá trình tiếp nhận tác phẩm như một cuộc đối thoại giữa độc giả và nhà văn thì tác phẩm cải biên liên quan đến cả (tái) diễn giải và (tái) sáng tạo.