Chương I:Cơ sở lý luận về động lực và nâng cao động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Chương II:Vận dụng mô hình hai yếu tố của Herzberg dé phân tích thực trạng nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại công ty bảo hiểm BIDV Đông Đô. Chương IILGiải pháp hoàn thiện công tác nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại công ty. SV: Phan Thị Phương 1 Lớp: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập GVHD: TS.
Nguyễn Thị Lê Thúy CHUONG I: CO SO LY LUAN VE DONG LUC VA NANG CAO DONG LUC CHO NGƯỜI LAO DONG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về động lực va nâng cao động lực làm việc của người lao động 1.1 Khái niệm động lực của người lao động Theo giáo trình Quản lý học của đồng chủ biên PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền & PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà & TS Đỗ Thị Hải Hà “Động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực,có năng suất, chất lượng,hiệu quả có khả năng thích nghĩ và sáng tạo cao. nhất trong tiềm năng của họ” 1.2 Sự cần thiết phải nâng cao động lực làm việc cho người lao động Nâng cao động lực làm việc cho người lao động là hệ thống các chính sách,biện pháp được nhà quản lý sử dụng để tác động đến người lao động nhằm mục đích giúp cho người lao động nâng cao được động lực trong công việc.Những chính sách đó của doanh nghiệp sẽ giúp nhân viên phát huy những năng lực hiện có và những năng lực tiềm tàng,từ đó sẽ giúp bản thân người lao động tự hoàn thiện mình.Và sự cần thiết phải nâng cao động lực làm việc của người lao động được thé hiện như sau: 1.2 Đối với cá nhân người lao động. Con người luôn có những trạng thái tâm lý mà họ cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó.Những trạng thái tâm lý đó chính là nhu cầu của con người,có thể là nhu cầu về mặt vật chất hoặc tỉnh thần.Và mong muốn thỏa mãn nhu cầu chính là động lực thúc day con người hành động.Do vậy,dù ở khía cạnh nào,nếu con người hành động ma cảm thấy không thé thỏa mãn nhu cầu mà bản thân mong muốn thì họ sẽ SV: Phan Thị Phương 2 Lớp: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Lê Thúy không có động lực đẻ làm việc.Khi đó họ sẽ không thể tập trung vào công việc và chắc chắn hiệu quả làm việc sẽ không cao và ngược lại.Do vậy,động lực chính là yếu tố giúp người lao động tin tưởng vào công việc mình đang làm,từ đó giúp họ yêu nghề hơn và nâng cao hiệu quả công việc hơn .Thậm chí có thể giúp họ được hưởng những mức thưởng cao hơn trong việc,góp phần ôn định thu nhập cho chính gia đình họ.3 Đối với doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp,tạo động lực kích thích lao động làm việc có những lợi ích cơ bản như sau: Thứ nhất,tạo động lực cho người lao động làm việc sẽ giúp cho người lao động có cái nhìn thiện cảm đối với doanh nghiệp,gắn kết với doanh nghiệp,mong muốn làm việc lâu đài với doanh nghiệp.Khi đó,các doanh nghiệp sẽ giữ được những nhân viên giỏi,nhân viên lâu năm có kinh nghiệm và giảm được tỷ lệ xin nghỉ việc.Đồng thời tiết kiệm được chỉ phí khi không phải mắt kinh phí để tuyển thêm nhân viên mới. Thứ hai,khi các nhà quản lý có những chính sách nâng cao động lực cho người lao động thì người lao động sẽ cảm thấy mình được quan tâm hơn.Từ đó sẽ góp phần tạo nên không khí thân thiện trong môi trường làm việc,giảm khoảng cách mối quan hệ giữa người lao động và nhà quản lý.Đó chính là nền tảng để một doanh nghiệp luôn đững vững trên thương trường ngày càng khốc liệt như hiện nay. Thứ ba,khi doanh nghiệp giúp người lao động nâng cao động lực làm việc,người lao động sẽ làm việc hiệu quả hơn từ đó sẽ trực tiếp làm tăng năng suất lao động của doanh nghiệp,tăng hiệu quả sử dụng lao động. Đối với xã hội Vi nâng cao động lực làm việc cho người lao động là yếu tố quan trọng trong việc tăng năng suất lao động và hiệu quả sử dụng lao động.Mà người SV: Phan Thị Phương 3 Lớp: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập GVHD: TS.
Nguyễn Thị Lê Thúy lao động và năng suất lao động có vai trò to lớn tạo ra thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán,làm tăng tiêu thụ ở trong nước,là động lực của twang trưởng kinh tế.Trong mối quan hệ giữa sử dụng số lượng lao động và năng suất lao động thì năng suất lao động là yếu tố quyết định.Do đó,việc nâng cao động lực làm việc cho người lao động chính là yếu tố thúc day tăng trưởng kinh tế.Hơn nữa,khi hiệu quả sử dụng lao động tăng,chứng tỏ xã hội sẽ giảm đi lượng lao động bị hao phí,giúp giảm đi những tổn thất xã hội khi người lao động được sử dụng không hiệu quả.2 Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg Lý thuyết hai yếu tố được đưa ra bởi nhà tâm lý học người Đức-Frederick Herzberg. Lý thuyết này được đưa ra chủ yếu dựa trên những kết quả điều tra và phân tích điều tra được thực hiện ở Pittsburgh,Pennsylvania. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy những phản ứng có xu hướng phù hợp, để lộ hai mặt khác nhau của các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc.1 Các yếu tố duy trì Nhóm các yếu tố duy trì là những yếu tố chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thường người lao động. Nhóm yếu tố này bao gồm các yếu tố như sau: 1.1 Điều kiện làm việc Điều kiện làm việc là các yếu tố tinh thần và vật chất liên quan đến công việc.Đó là các yếu tố như văn hóa tổ chức, chế độ bảo hiểm,công cụ lao động.
Thứ nhất là văn hóa tổ chức:là hệ thống tat cả các giá trị do tổ chức sáng tạo ra và được tích lũy dần theo những quá trình hướng tới cái tốt, cái đúng và cái đẹp của tổ chức.Văn hóa tô chức bao gồm các yếu tố tỉnh thần và các yếu tố vật chat trong tổ chức. Nếu hệ thống các quan điểm đúng đắn và nguyên tắc rõ ràng,những giá trị SV: Phan Thị Phương 4 Lớp: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Lê Thúy mà tổ chức cam kết theo đuổi được thực hiên tốt và những con người trong tổ chức có lối sống văn minh,lành mạnh,luôn mong muốn học hỏi,được đào tạo phát triển thì động lực làm việc của người lao động trong tổ chức này sẽ luôn được duy trì. Thứ hai là công cụ lao động.
Công cụ lao động chính là hệ thống các máy móc,các loại trang thiết bị,các loại dụng cụ cần thiết cho quá trình sản xuất. Sự phù hợp của công cụ lao động với trình độ lao động của người lao động là yếu tố quyết định tỉnh thần làm việc của người lao động.Nếu công cụ lao động không phù hợp với trình độ người lao động thì họ sẽ không thé sử dụng chúng dé làm việc với hiệu quả cao nhất.Do đó năng suất lao động sẽ giảm khiến cho người lao động trở nên chán nản trong công việc. Thứ ba là chế độ bảo hiểm. Chế độ bảo hiểm là các loại hình bảo hiểm mà tổ chức sẽ đảm bảo cho người lao động sẽ được hưởng và tham gia khi làm việc trong tổ chức như bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.Bất kỳ người lao động sẽ có động lực làm việc,an tâm làm việc khi tính mang,tinh trạng sức khỏe của mình được đảm bảo và ngược lại.2 Các mỗi quan hệ trong công việc Giao tiếp trong nội bộ một tổ chức có thể chia làm 3 loại: Giao tiếp giữa ban lãnh đạo với nhân viênhay còn gọi là mối quan hệ từ trên xuống, giao tiếp giữa nhân viên với ban lãnh đạo hay còn gọi là mối quan hệ từ dưới lên, và giao tiếp giữa nhân viên với nhau còn gọi là mối quan hệ ngang hàng.Những mỗi quan hệ đều có những ảnh hưởng nhất định đến động lực làm việc của người lao động trong tổ chức.
SV: Phan Thị Phương 5 Lớp: Quan If kinh tế 52A Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Lê Thúy 1. Giám sát là hành động giúp cho nhà lãnh đạo có thể hiểu và luôn nắm rõ tình hình và có thể đảm bảo rằng các kế hoạch,chính sách được thực hiện đúng đắn.Giám sát bao gồm việc đưa ra các hướng dẫn cũng như việc kiểm tra mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của người lao động. Trong thực tế,có hai kiểu giám sát khác nhau.
Đó là kiểu giám sát quá mức và kiểu giám sát nửa vời.Mỗi kiểu giám sát đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy dé sự giám sát là một yếu tố duy trì động lực cho người lao động nhà quản lý cần khéo léo lựa chọn các hình thức giám sát sao cho phủ hợp và khéo léo.4 Chính sách và quy định quản lý của tổ chức. Con người là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất.Do đó quá trình hoạch định và thực thi chính sách quản lý con người cần dựa trên những nguyên tắc cơ bản là chính sách quản lý con người cần phải dựa trên sự tôn trọng con người,đảm bảo vừa cứng rắn vừa mềm dẻo. Lương và các khoản phúc lợi phụ : là các khoán tiền lương, tiền trợ cấp, tiền thưởng Y Tiền lương: Khái niệm tiền lương tại mỗi nước và mỗi thời kỳ xã hội tại mỗi nước là khác nhau.Tại điều 55 chương VI “tiền lương” của Bộ luật lao động ban hành năm 1994 quy định: “Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả côngviệc.Mức lương của người lao động không đượcthấp hơn mứclương tối thiểu do Nhà nước quy định.” Từ đó ta có thé hiểu rằng: SV: Phan Thị Phương 6 Lớp: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập GVHD: TS.
Nguyễn Thị Lê Thúy Tiền lương là một khoản thu nhập của người lao động,giúp người lao động trả chỉ phí cho các khoản sinh hoạt cần thiết.Tiền lương sẽ tạo động lực cho con người làm việc khi họ cảm thấy nó xứng đáng với công sức mình bỏ ra.Nếu tiền lương không phù hợp với năng lực của họ,người lao động sẽ không hăng say làm việc nên hiệu quả công việc sẽ thấp. v Tiền thưởng Tiền thưởng là khoản tiền dé bổ sung cho tiền lương nhằm thực hiện tốt hơn nguyên tắc phân phối theo lao động và góp phần nâng cao hiệu quả,năng suất lao động trong các tổ chức.