Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu, phần này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi, phương pháp, ý nghĩa và kết cấu bài nghiên cứu. Chương 2: Nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về nắm giữ tiền của doanh nghiệp, trình bày nền tảng lý thuyết, các yếu tố tài chính tác động đến nắm giữ tiền và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về nắm giữ tiền. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày giả thuyết nghiên cứu, giới thiệu biến nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, và phương pháp thực hiện nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, kết quả hồi quy dữ liệu chéo, dữ liệu bảng tĩnh và dữ liệu bảng động.
Chương 5: Kết luận của bài nghiên cứu, trình bày kết luận, hạn chế của đề tài và gợi ý trong tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2 NỀN TẢNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ NẮM GIỮ TIỀN 2. Động cơ và nền tảng lý thuyết về nắm giữ tiền mặt 2. Động cơ nắm giữ tiền Tiền là tài sản có tính tha nh khoản cao nhất và là thước đo khả năng thanh toán đúng hạn cho khách hàng và chủ nợ của một công ty.
Nắm giữ tiền mặt, trong khuôn khổ của nghiên cứu này, được xác định là tiền mặt và các khoản tương đương tiền hoặc sẵn sàng để đầu tư vào tài sản hữu hình và chi trả cổ tức cho các chủ đầu tư. Công ty nắm giữ một s ố tiền nhất định để cân bằng tính thanh khoản, và Keynes (1936) đã thừa nhận ba đ ộng cơ để nắm giữ tiền là: (1) nhu cầu giao dịch; (2) nhu cầu phòng ngừa; và (3) nhu cầu đầu cơ. Sau đó, ông kết hợp hai nhu cầu đầu tiên và gọi là cầu tiền mặt. Các nhu cầu đó có lãi suất thả nổi.
Keynes giải thích rằng lãi suất là nguyên nhân chính làm giảm việc sẵn sàng nắm giữ tiền. Việc chọn tính thanh khoản phụ thuộc vào ba động cơ: động cơ giao dịch, đại diện cho nhu cầu thanh kho ản hằng ngày trong kinh doanh và các giao dịch cá nhân của doanh nghiệp và người dân; động cơ phòng ngừa, đó là đòi hỏi về thanh khoản để có thể tài trợ cho các nhu cầu trong tương lai; và động cơ đầu cơ, đó là nhu cầu về thanh khoản để tạo ra một số hoa lợi. Besley và Brigham (2005) cho rằng động cơ đầu cơ của các công ty gi ữ tiền mặt là tận dụng tất cả các lợi thế mua hàng có thể phát sinh. Ngoài ra cũng có nhiều lý do lý giải cho lý do tại sao các công ty có xu hướng nắm giữ nhiều tiền càng tốt.
Và Opler et al (1997) cho rằng động cơ nắm giữ tiền được công nhận tốt nhất là để giảm thiểu chi phí giao dịch. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Quản lý việc nắm giữ tiền của công ty bắt đầu vào đầu những năm 1950, khi Baumol (1952) giới thiệu mô hình quản lý tiền mặt và tồn kho tài sản hữu hình. Baumol cố gắng phân tích nắm giữ tiền như là mục đích của động cơ giao dịch, kể từ khi nắm giữ tiền đóng vai trò quan trọng nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch cho các công ty; công trình của ông dựa trên mô hình quản lý hàng tồn kho của Whitin (1952). Ông đã phát hiện ra rằng các công ty nắm giữ tiền mặt bởi vì họ có thể sử dụng tiền đúng lúc để đổi lấy các loại tài sản nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch.
Và do đó n ắm giữ tiền là quan trọng bởi vì cung cấp cho các công ty tính thanh khoản; nghĩa là, các công ty có thể thanh toán đúng hạn tất cả các giao dịch ngay cả khi rơi vào thời kỳ tồi tệ nhất. Myers và Majluf (1984) cho rằng, khi các công ty có nhu cầu đầu tư, điều này có thể hạn chế việc chia cổ tức cho các cổ đông, và họ đầu tư quỹ tài sản lưu động cao để cung cấp tài chính cho thời kỳ đình đốn. Phát biểu này là phù hợp với động cơ phòng ngừa của nắm giữ tiền, việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu đầu tư, các doanh nghiệp cố gắng cung cấp tài chính cho thời kỳ đình đốn và giảm thiểu nguy cơ rủi ro không chắc chắn. Han và Qiu (2007) nghiên cứu động cơ phòng ngừa nắm giữ tiền qua cách phân tích bất ổn của dòng tiền ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ tiền, dựa trên các ràng buộc tài chính của các công ty niêm yết với m ẫu lớn các công ty trong giai đoạn 1997-2002.
Họ thấy rằng việc nắm giữ tiền mặt của các công ty bị giới hạn tài chính tăng lên khi tính bất ổ n của dòng tiền tăng lên, nhưng đối với các công ty không bị giới hạn này thì mối tương quan này trở nên có tính may rủi. Nghiên cứu của họ cung cấp phân tích của Keynes (1936) về động cơ phòng ngừa của việc nắm giữ tiền và tài sản lưu động, thăm dò tác động độ bất ổn của dòng tiền đầu tư của công ty, và họ chỉ ra rằng ràng buộc tài chính ảnh hưởng tới quan hệ giữa một bên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 là bất ổn dòng tiền và nắm giữ tiền mặt và một bên còn lại là các khoản đầu tư. Họ sử dụng mô hình giả định không có phòng ngừa rủi ro cho dòng tiền trong tương lai, phòng ngừa rủi ro làm giảm động cơ phòng ngừa nắm giữ tiền khi phòng ngừa rủi ro và động cơ phòng ngừa có thể xem như thay thế cho nhau. Tỷ lệ tối ưu giữa phòng ngừa rủi ro và động cơ phòng ngừa được xác định khi lợi ích cận biên của phòng ngừa rủi ro giống với lợi ích cận biên từ động cơ phòng ngừa.
Tỷ lệ tối ưu này phụ thuộc vào mối tương quan giữa các khoản đầu tư trong tương lai và dòng tiền trong tương lai. Nhiều công trình nghiên cứu trong những năm gần đây tập trung vào y ếu tố quyết định nắm giữ tiền và hành vi công ty đối với mức tiền mặt mục tiêu. Mô hình này tương tự với nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn của công ty (Elion et al, 2004). Do đó, một số yếu tố quyết định đề cập trong bài viết này cũng được sử dụng để phân tích cơ cấu nguồn vốn.
Và, để phân tích yếu tố quyết định nắm giữ tiền của công ty, như đã đề cập ở trên, trong nghiên cứu này chỉ nghiên cứu đặc điểm của từng công ty cụ thể có liên quan. Đó là: dòng tiền, thanh khoản, đòn bẩy, nợ ngân hàng, cơ hội tăng trưởng, quy mô doanh nghiệp, biến đổi của dòng tiền, chi trả cổ tức, quyền sở hữu quản lý, kiểm soát các cổ đông. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (The Trade-off Theory-TOT) Nắm giữ tiền phải đối mặt với những chi phí, thay vì nắm giữ tiền mặt, doanh nghiệp có thể đầu tư vào các loại trái phiếu, lợi ích từ trái phiếu mất đi chính là chi phí cơ hội của việc giữ tiền. Khi rơi vào tình trạng thiếu hụt tiền mặt, doanh nghiệp đứng trước lựa chọn: hoặc phát hành nợ hoặc phát hành vốn cổ phần.
Mà t heo quan điểm của thuyết đánh đổi, những nhà quản trị tin rằng họ sẽ tìm được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Một tỉ lệ đòn bẩy tối ưu là sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí của nợ. Trong đó lợi ích của nợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 là lợi ích từ tấm chắn thuế và lãi vay. Chi phí tiềm tàng của nợ điển hình là chi phí kiệt quệ tài chính bao g ồm cả chi phí phá sản, chi phí đại diện giữa chủ sở hữu và chủ nợ.
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Lý thuyết đánh đổi cũng giúp giải thích được tỷ lệ nợ khác nhau giữa các ngành. Những doanh nghiệp có tài sản hữu hình an toàn và khả năng sinh lợi cao thì nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao.
Ngược lại, các công ty mà khả năng sinh lợi thấp và tài sản vô hình là chủ yếu thì nên lựa chọn một cấu trúc vốn với tỷ lệ nợ thấp. Do đó, cần phải xem xét lợi ích và chi phí từ việc nắm giữ tiền mặt. Lợi ích có thể là nguồn thu nhập mà nắm giữ tiền mang lại, chẳng hạn như lợi nhuận từ các dự án, các cơ hội tăng trưởng nếu dùng tiền đầu tư… Chi phí của việc nắm giữ tiền mặt là chi phí cơ hội mất đi nếu giữ tiền, ngoài ra còn kể đến chi phí huy động nguồn tài trợ nếu thiếu tiền, có thể từ nợ hoặc vốn cổ phần. Dựa vào chênh lệch giữa lợi ích và chi phí, doanh nghiệp sẽ có những quyết định nắm giữ tiền mặt khác nhau.
Lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking Order Theory-POT) Những nền tảng đầu tiên cho lý thuyết trật tự phân hạng là từ những nghiên cứu của Donaldson (1961). Các nghiên cứu này đưa ra những bằng chứng cho thấy nhà điều hành ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ và chỉ cân nhắc đến nguồn tài trợ bên ngoài (nợ và phát hành cổ phần mới) trong những trường hợp mà nhu cầu vốn gia tăng bất thường không thể tránh khỏi. Myers và Majluf (1984) đã có những nghiên cứu sâu hơn để chỉ ra rằng những khuynh hướng thiên lệch của tài chính hành vi bắt nguồn từ sự bất cân xứng thông tin - một cụm từ dùng để chỉ rằng nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 quản trị biết về các tiềm năng, rủi ro và các giá trị của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài và quy ết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai.