Mở đầu, nêu lên lý do cấp thiết cần phải thực hiện đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài. Chương hai Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, tác giả sẽ đƣa ra các cơ sở lý thuyết nhằm xác định mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán Đ ng thời, phần này tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài đƣợc nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới, nhằm làm cơ sở để nghiên cứu. Chương ba Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, tác giả giới thiệu về dữ liệu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài. 5 Chương bốn Kết quả, các kết quả nghiên cứu của đề tài đƣợc tác giả tóm tắt và trình bày tại đây Trong Chương năm Kết luận, tác giả tóm tắt các kết quả tìm đƣợc, đƣa ra các hàm ý chính sách và hạn chế cùng hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
TỔNG QUAN LÝ THUY T VÀ CÁC NGHIÊN CỨU ƢỚ ÂY 2.1 Tổng quan lý thuyết Trong số các khuôn khổ lý thuyết đã đƣợc xây dựng để giải thích biến động giá cổ phiếu cũng nhƣ lợi nhuận thị trƣờng chứng khoán, có ba lý thuyết nổi tiếng g m: mô hình chiết khấu cổ tức (DDM) hoặc mô hình giá trị hiện tại (PVM), mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT). Giả thuyết thị trƣờng hiệu quả Nền tảng quan trọng đằng sau mô hình định giá tài sản vốn CAPM, lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá APT và các lý thuyết đầu tƣ khác là lý thuyết về thị trƣờng hiệu quả. Theo Fama (1965), thị trƣờng hiệu quả là thị trƣờng mà tại đó giá cả của thị trƣờng chứng khoán đi theo một bƣới đi ngẫu nhiên. Trong một nghiên cứu khác, thị trƣờng đƣợc coi là hiệu quả khi tất cả các thông tin liên quan đến chứng khoán đƣợc phản ánh một cách đầy đủ vào giá chứng khoán (Fama, 1970).
Thị trƣờng chứng khoán do đó đƣợc phân loại thành ba loại, g m thị trƣờng hiệu quả dạng yếu, thị trƣờng bán hiệu quả và thị trƣờng hiệu quả dạng mạnh. Thị trƣờng hiệu quả dạng yếu: Giá cổ phiếu chỉ phản ánh thông tin trong lịch sử. Lợi nhuận thặng dƣ không thể đạt đƣợc nhờ phân tích kỹ thuật hoặc giá chứng khoán trong quá khứ. Thị trƣờng bán hiệu quả: Giá chứng khoán chỉ phản ánh thông tin đƣợc công bố đại chúng.
Lợi nhuận thặng dƣ không thể đạt đƣợc nhờ phân tích cơ bản. Nói cách khác, nhà đầu tƣ không thể đƣợc mức lợi nhuận cao hơn mức rủi ro mà họ phải gánh chịu. 7 Thị trƣờng hiệu quả dạng mạnh: Giá chứng khoán phản ánh tất cả thông tin có trên thị trƣờng, kể cả các thông tin nội bộ. Khi thị trƣờng đạt mức độ hiệu quả dạng mạnh, tỷ suất sinh lợi thặng dƣ t khi đạt đƣợc kể cả khi sử dụng các thông tin nội bộ.
Do đó, việc am hiểu một thị trƣờng có hiệu quả hay không và mức độ hiệu quả của thị trƣờng nhƣ thế nào là bƣớc quan trọng để hiểu đƣợc hành vi của giá chứng khoán. Mô hình chiết khấu cổ tức Fisher (1930) giới thiệu các khái niệm về tỷ suất sinh lợi nội bộ - một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của khung định giá chứng khoán hiện đại sau này. Định nghĩa về giá trị nội tại sau đó đƣợc áp dụng đối với cổ phiếu phổ thông của John Burr Williams (1938), có thể đƣợc trình bày toán học nhƣ sau: ∑ ( ) ( ) Với P biểu thị giá trị nội tại (hoặc giá trị hợp lý) của cổ phiếu phổ thông, biểu thị cổ tức bằng tiền ƣớc tính trong khoảng thời gian t, và đại diện cho tỷ lệ chiết khấu thích hợp (sau này đƣợc xác định nhƣ tỷ lệ lợi tức cần thiết) trong giai đoạn t. Mô hình này thể hiện ý tƣởng cơ bản của mô hình chiết khấu cổ tức (DDM), cho rằng giá chứng khoán hôm nay là hiện giá của tất cả các dòng tiền kỳ vọng nhận đƣợc trong tƣơng lai Hình thức đơn giản nhất của mô hình chiết khấu cổ tức là mô hình tăng trƣởng Gordon, đƣợc phổ biến bởi Gordon (1962).
Mô hình giả định rằng cổ tức của một công ty tăng trƣởng với tốc độ cố định trong khoản thời gian định kỳ (thƣờng là trên một hàng năm). Về mặt toán học, công thức đƣợc đƣa ra nhƣ sau: 8 ( ) Với P đại diện cho giá trị nội tại của cổ phiếu phổ thông; đại diện cho cổ tức năm tiếp theo; R đƣợc yêu cầu tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ (còn gọi là tỷ lệ vốn hóa); và g biểu thị cho tốc độ tăng trƣởng liên tục của cổ tức. Mô hình Gordon đƣợc phát triển trên giả định rằng tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của các nhà đầu tƣ lớn hơn tốc độ tăng trƣởng cổ tức ( R > g) và rằng tốc độ tăng trƣởng cổ tức không đổi qua các năm. Do đó, mô hình này phù hợp với các công ty có điều kiện tăng trƣởng ổn định.
Tuy nhiên, giả định về tốc độ tăng trƣởng cổ tức cố định là không thực tế khi hầu hết các công ty có mức tăng trƣởng không ổn định về thu nhập và cổ tức trong tƣơng lai. Do đó, Gordon (1962) phát triển mô hình cơ bản thành các mô hình nhiều giai đoạn: mô hình hai giai đoạn và mô hình ba giai đoạn. Mô hình cổ điển hai giai đoạn phù hợp cho các công ty dự kiến tốc độ phát triển cao trong các năm đầu (giai đoạn tăng trƣởng nhanh chóng), trƣớc khi trở về tốc độ tăng trƣởng ổn định (giai đoạn tăng trƣởng liên tục). Giá trị của một cổ phiếu đƣợc tính toán theo công thức nhƣ sau: ( ) ( ) ( ) ∑ ( ) ( ) ( ) Cổ tức đƣợc giả định tăng trƣởng với tốc độ (tỷ lệ ngắn hạn tăng trƣởng) trong giai đoạn đầu tiên, và tăng trƣởng với tốc độ (tốc độ tăng trƣởng dài hạn hoặc tốc độ tăng trƣởng vĩnh viễn) trong giai đoạn thứ hai.
Tuy nhiên, mô hình này có nhƣợc điểm là khó xác định đƣợc khoảng thời gian mà công ty sẽ tăng trƣởng nhanh chóng và giả định về việc chuyển từ giai đoạn phát triển nhanh sang giai đoạn phát triển ổn định không phù hợp với thực tế, khi mà tốc độ 9 tăng trƣởng thƣờng điều chỉnh dần về trạng thái ổn định, chứ không chuyển dịch ngay lập tức về tốc độ phát triển ổn định. Một mô hình phù hợp với các công ty có nhiều giai đoạn phát triển là mô hình tăng trƣởng ba giai đoạn Công ty đƣợc giả định có ba giai đoạn phát triển nhƣ sau: tăng trƣởng nhanh chóng trong giai đoạn đầu, tăng trƣởng chậm trong giai đoạn thứ hai và phát triển chậm và ổn định trong dài hạn. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này nằm ở việc đòi hỏi thông tin đầu vào để tính toán nhiều, bao g m tỷ suất sinh lợi đòi hỏi, tốc độ phát triển trong từng giai đoạn và thời gian của từng giai đoạn phát triển. Tóm lại, mô hình chiết khấu cổ tức là một phƣơng pháp quan trọng trong định giá cổ phiếu.
Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình chiết khấu cổ tức để áp dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm có nhiều hạn chế, do mô hình có nhiều giả định không phù hợp với thực tế Đ ng thời, việc ƣớc tính sai lệch tốc độ tăng trƣởng của công ty trong tƣơng lai và tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của nhà đầu tƣ cũng dẫn đến tính toán giá trị nội tại của chứng khoán không chính xác. Do vậy, nhiều kỹ thuật đƣợc xây dựng nhằm ƣớc t nh ch nh xác hơn tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của nhà đầu tƣ, qua đó t nh toán ch nh hơn giá trị của chứng khoán. Các kỹ thuật này bao g m mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT). Mô hình định giá tài sản vốn Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) dùng để tính toán tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của nhà đầu tƣ Brigham và Gapenski (1996) sử dụng đƣờng thị trƣờng chứng khoán (SML) để chỉ ra các yếu tố quyết định tỷ suất sinh lợi đòi hỏi đối với một chứng khoán cụ thể.
Cụ thể, tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của một chứng khoán có thể đƣợc tính bằng tỷ suất sinh lợi phi rủi ro cộng với phần bù thị trƣờng Đƣờng tỷ suất sinh lợi thị trƣờng minh họa cho lý thuyết định giá tài sản vốn (Lintner, 1965) Theo đó, tài sản nằm trong danh mục đa dạng hóa đầu tƣ chỉ chứa đựng rủi ro hệ thống, do rủi ro phi hệ thống đã 10 bị loại bỏ nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tƣ Phƣơng trình Sharpe - Lintner CAPM đƣợc xây dựng nhƣ sau: ( ) [ ( ) ] Để đo lƣờng lợi nhuận dự kiến của tài sản ( ), công thức CAPM dùng tỷ suất sinh lợi của một tài sản phi rủi ro là , tỷ lệ sinh lợi dự kiến của danh mục đầu tƣ thị trƣờng , và chỉ số rủi ro hệ thống của thị trƣờng tài sản. Nói tóm lại, mô hình CAPM cho rằng là biến độc lập duy nhất có thể giải thích cho tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Tuy nhiên, do chỉ dựa trên các giả thuyết đơn giản, mô hình định giá tài sản vốn không phải là một mô hình hoàn hảo để đo lƣờng tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán. Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá Mô hình CAPM cho thấy các khuyết điểm khi tính toán tỷ suất sinh lợi của chứng khoán, do cho rằng chỉ có rủi ro hệ thống ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.
Do đó, hợp lý khi cho rằng có nhiều hơn một yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Một mô hình khác đƣợc xây dựng thay thế cho mô hình định giá tài sản vốn là lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) đƣợc đƣa ra bởi Ross (1976), còn đƣợc gọi là mô hình định giá đa nhân tố. Mô hình này cũng thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận trong định giá tài sản. Phƣơng trình của APT có thể đƣợc biểu diễn dƣới dạng: ( ) ∑ Với ( ) là lợi nhuận kỳ vọng của tài sản i; là tỷ lệ rủi ro lợi nhuận; là độ nhạy của chứng khoán đối với nhân tố n; là phần bù rủi ro.