CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1. Các lý thuyết nền tảng của đề tài nghiên cứu Nhằm giải thích cho hành vi tham gia các hoạt động PTNN của giáo viên, cũng như căn cứ lý giải về động lực của họ cho hoạt động học tập này, luận án tham khảo nghiên cứu về 4 học thuyết, bao gồm: (1) thuyết Hành động hợp lý-TRA của Fishbein và Ajzen, (2) mô hình Tuyển dụng của Rubenson, (3) mô hình Tương tác tâm lý của Darkenwald và Merriam và (4) thuyết động lực nghề nghiệp của London. Luận án được phát triển dựa trên những học thuyết này cùng với những nghiên cứu khác liên quan tới yếu tố tác động đến PTNN của giáo viên.
Những yếu tố được phát hiện cũng tương thích với nội dung lý luận mà những học thuyết này truyền tải. Thuyết hành động hợp lý Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA-Theory of Reasoned Action) do Fishbein và Ajzen phát triển [97], trong đó cho rằng hành vi phụ thuộc vào chuẩn chủ quan cùng với thái độ của cá nhân đối với hành vi đó. Sau đó, học thuyết này đã được hiệu chỉnh mở rộng thêm thang đo nhận thức kiểm soát hành vi dựa trên Thuyết hành vi có hoạch định (Theory of planned behavior-TPB) [17] Hình 1. Thuyết hành động hợp lý-TRA Fishbein và Ajzen đã kết hợp những yếu tố mang tính chất tâm lý cũng như xã hội học và nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố cá nhân và yếu tố xã hội đối với hành vi, quyết định tham gia các hoạt động học tập [33].
Becker và Gibson cho rằng Thuyết hành động hợp lý rất phù hợp cho việc dự đoán ý định tham gia vào hoạt động PTNN của giáo viên. Học thuyết này cho rằng hành vi của mỗi một cá nhân đều được định hình bởi 2 yếu tố: thái độ dẫn đến hành vi đó và chuẩn chủ quan [97]. Trong đó thái độ dẫn đến hành vi là mức đánh giá mà một cá nhân đưa ra đối với kết quả thu được khi thực hiện hành vi đó. Chuẩn chủ quan được định nghĩa là sức ép xã hội về mặt nhận thức 8 để cá nhân ra quyết định tiến hành hay không tiến hành hành vi nào đó [97].
Như vậy, thuyết TRA đặt ra giả thuyết rằng, mỗi cá nhân sẽ quyết định thực hiện một hành vi nếu họ đánh giá rằng kết quả đạt được là tích cực hoặc khi họ tin rằng những người khác cũng sẽ tiến hành như vậy [20]. Như vậy, mô hình TRA đã định hướng giải thích rõ hơn cho hành vi tham gia cũng như động lực của giáo viên sau khi tiến hành các hoạt động PTNN. Hoạt động PTNN của giáo viên bị chi phối, ảnh hưởng bởi những yếu tố mang tính xã hội, đồng thời việc quyết định tiến hành hoạt động PTNN của giáo viên sẽ trở nên dễ dàng, đầy cảm hứng hơn khi họ tin rằng hoạt động đó mang lại nhiều lợi ích cho bản thân họ cũng như những đồng nghiệp xung quanh. Mô hình tuyển dụng Mô hình tuyển dụng của Rubenson (Rubenson’s Recruiment Paradigm) là một hướng tiếp cận nhấn mạnh các yếu tố về mặt tri giác, cảm giác của cuộc đời mỗi cá nhân [30].
Mô hình này cũng thường được gọi là thuyết Hy vọng (Expectancy-valence theory). Theo mô hình này, nhu cầu, kinh nghiệm cá nhân và các yếu tố môi trường ít quan trọng trong việc quyết định hành vi hơn là những cảm nhận của họ về việc thực hiện hành vi đó [66]. Theo Rubenson, sự tương tác giữa các yếu tố mang tính cá nhân và yếu tố mang tính môi trường ảnh hưởng tới sự tham gia của những người trưởng thành. Trong đó, yếu tố cá nhân bao gồm kinh nghiệm, đặc trưng, nhu cầu; yếu tố môi trường bao gồm cấu trúc phân cấp, quy tắc, quy chuẩn, giá trị nổi bật của người khác và những cơ hội giáo dục sẵn có [234].
Mô hình của Rubenson định hướng cho nghiên cứu này nhằm giải thích rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng tới PTNN của giáo viên. Sự ảnh hưởng của kinh nghiệm, tính cách, thái độ và nhận thức của bản thân mỗi giáo viên bên cạnh các yếu tố môi trường khác trở nên hiện hữu, rõ ràng, quyết định tới động lực của giáo viên trong hoạt động PTNN. Việc các yếu tố ảnh hưởng tích cực tới hoạt động PTNN cũng giúp giáo viên tích cực hơn và tự tin hơn trong hoạt động tác nghiệp tại trường. 9 Xã hội hóa thông qua Hy vọng: hy vọng môi trường gia đình, giáo dục sẽ có nhà trường và công việc những kết quả mong muốn nhất định X Chuẩn bị 1 hy vọng có khả năng cách chủ động tham gia và hoàn Những thuộc tính bẩm sinh thành hoạt động giáo dục Các yếu tố cấu trúc Nhận thức và hiểu trong môi trường (giá biết về môi trường trị của các thành viên QUYỀN LỰC (sức và nhóm liên quan, mạnh của ai đó có thể khả năng học tập) quyết định hành động) Những trải Nhu cầu hiện tại của nghiệm về nhu cầu của “Hấp lực” của cá nhân mỗi cá nhân giáo dục Hình 1.
Mô hình tuyển dụng 1. Mô hình tương tác tâm lý Mô hình tương tác tâm lý (Psychological Interaction Model) do Darkenwald và Merriam [74] đề xuất nhìn nhận hành vi tham gia học tập của các cá nhân như là sự phản hồi của cá nhân đó đối với các yếu tố bên trong và bên ngoài-những yếu tố được coi là thuộc về phạm trù tâm lý trong tự nhiên và được chia thành 7 lĩnh vực khác nhau [243]: (1) Trạng thái kinh tế-xã hội (socio-economic status): sự kết hợp giữa trạng thái kinh tế và trạng thái xã hội của mỗi cá nhân); (2) Áp lực học tập (learning press): mức độ mà môi trường của cá nhân khuyến khích và hỗ trợ hoạt động học tập suốt đời; (3) Nhận thức về giá trị và lợi ích tham gia (perceived value and utility of participation): nhận thức về giá trị và lợi ích mà việc tham gia mang lại cho cuộc sống của các cá nhân đó; (4) Sự sẵn sàng tham gia (readiness to participate): phần lớn được quyết định bởi những giá trị và lợi ích mà các cá nhân nhận thức được khi tham gia hoạt động; (5) Yếu tố kích thích tham gia (participation stimuli): đề cập tới các tác nhân kích thích sự tham gia như sự thăng tiến trong công việc, chế độ hưu trí hoặc mong ước cá nhân về sự tiến bộ của bản thân; 10 (6) Khả năng tham gia (probability of participation) (7) Trở ngại khi tham gia (barriers to participation): những trở ngại có thể ngăn cản và/hoặc làm giảm khả năng tham gia hoạt động học tập của mỗi cá nhân. Theo đó, Darkenwald và Merriam đã chỉ ra được 4 loại trở ngại có thể ảnh hưởng tới quyết định tham gia học tập của mỗi cá nhân, bao gồm: (1) hoàn cảnh; (2) cơ sở giáo dục; (3) tâm lý; (4) trở ngại về thông tin [74]. Đồng thời Darkenwald và Merriam cũng xây dựng thang đo các cấp độ trở ngại khi tham gia hoạt động và xác định được 6 yếu tố: (1) thiếu tự tin, (2) thiếu khóa học, (3) hạn chế về thời gian, (4) tính ưu tiên cá nhân thấp, (5) chi phí, (6) gia đình và cá nhân.
Những yếu tố gây trở ngại được Darkenwald và Merriam chỉ ra cho thấy rõ ràng hơn sự tác động mà giáo viên có thể nhận trong quá trình PTNN của bản thân. Những yếu tố này có thể đến từ bản thân giáo viên, đến từ hoàn cảnh cá nhân và gia đình, hoàn cảnh xã hội cũng như xuất phát từ cơ sở giáo dục mà giáo viên đang công tác. Thuyết động lực nghề nghiệp Tác giả London đã định nghĩa động lực nghề nghiệp của mỗi cá nhân được cấu thành từ 3 yếu tố chính: sức bật, sự thấu hiểu và định dạng nghề nghiệp [23] mà trong đó, định dạng/nhận dạng nghề nghiệp là định hướng của động lực, sự thấu hiểu là nhân tố khơi dậy động lực nhằm khuyến khích sự tham gia vào các quyết định và hoạt động lập kế hoạch cho nghề nghiệp, trong khi sức bật chính là nhân tố duy trì bền bỉ của nghề nghiệp. Điều kiện hoàn cảnh Quyết định và hành vi Sức bật nghề nghiệp Thấu hiểu nghề nghiệp Nhận dạng nghề nghiệp nghề nghiệp Hình 1.
Mô hình động lực nghề nghiệp Theo mô hình động lực nghề nghiệp của London, các miền chính của động lực nghề nghiệp được định nghĩa như sau: (1) Sức bật nghề nghiệp (Career resilience) là khả năng thích ứng với sự thay đổi, ngay cả khi các tình huống thay đổi có tính chất 11 hỗn loạn và làm cho các cá nhân thất vọng, chán nản; (2) Thấu hiểu nghề nghiệp (Career insight) là khả năng nhìn nhận thực tế về bản thân và nghề nghiệp, đồng thời thiết lập các mục tiêu căn cứ trên nhận thức này; (3) Nhận dạng nghề nghiệp (Career identity) là cách mà mỗi cá nhân định nghĩa bản thân thông qua công việc. Các nghiên cứu xoay quanh động lực nghề nghiệp cho thấy rằng mỗi cá nhân sẽ có động lực nghề nghiệp cao hơn khi các cấp quản lý, lãnh đạo của họ cho thấy tinh thần hỗ trợ, luôn đưa ra những phản hồi rõ ràng về hoạt động tác nghiệp, khuyến khích cấp dưới thiết lập các mục tiêu, khởi xướng các cuộc thảo luận liên quan tới vấn đề phát triển chuyên môn nghề nghiệp. Nghiên cứu của Liu, Yuan và Zhang đã chỉ ra rằng những trải nghiệm cá nhân của giáo viên và yếu tố bối cảnh văn hóa-xã hội đều có thể ảnh hưởng tới động lực học tập của họ trong các hoạt động PTNN [171]. Theo 4 lý thuyết nền tảng đã đề cập, những yếu tố bên trong như thái độ, nhận thức của giáo viên đối với các hoạt động PTNN và những yếu tố bên ngoài như thời gian, chi phí, văn hóa nhà trường đều có thể ảnh hưởng tới sự tham gia của giáo viên trong các hoạt động PTNN.
Các lý thuyết nền tảng được đưa ra đã góp phần giải thích được các hành vi tham gia hoạt động của mỗi người, trong đó mỗi lý thuyết nền tảng đều xuất hiện các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của các cá nhân, bao gồm thái độ (Thuyết hành động hợp lý), thời gian (Mô hình tương tác tâm lý), kinh phí (Mô hình tương tác tâm lý), ảnh hưởng của quản lý, lãnh đạo (Mô hình tuyển dụng, Thuyết hành động hợp lý, Thuyết động lực nghề nghiệp). Việc tìm hiểu các lý thuyết nền tảng góp phần hỗ trợ tác giả trong việc định hướng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia PTNN của giáo viên.