chương 1, tác giả đã giới thiệu về đề tài nghiên cứu và trình bày những vấn đề xung quanh đề tài nghiên cứu, bao gồm mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mô hình và phương pháp nghiên cứu, cấu trúc của nghiên cứu và những đóng góp mà đề tài nghiên cứu mang lại. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Tổng quan khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản Các khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản được phổ biến theo nhiều cách nghĩ khác nhau, ở nhiều khía cạnh khác nhau và đã được hình thành từ lâu, Uỷ ban giám sát Basel (2008) cho rằng thanh khoản là khi ngân hàng có các nghĩa vụ đến hạn và ngân hàng phải giải quyết các nghĩa vụ đó nhằm mục đích là tránh tổn thất xấu cho ngân hàng, đồng thời ngân hàng phải tăng tổng tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Ở một góc độ khác, Duttweiler (2011) đã phổ biến khái niệm cơ bản về thanh khoản trong ngân hàng là khả năng thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng, nghĩa vụ tài chính khi đến hạn. Theo Duttweiler (2009), rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là rủi ro khi NHTM mất khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc các biến động tài chính phát sinh bất ngờ và đến hạn hoặc ngân hàng phải khẩn cấp huy động vốn với chi phí cao hơn nhiều để có thể đáp ứng ngay lập tức tình trạng thâm hụt thanh khoản; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác dẫn đến mất khả năng thanh toán của NHTM, sau đó sẽ gây nên những hậu quả khôn lường.
Ngoài ra, theo Nguyễn Văn Tiến (2010), có ba nguyên nhân tiền đề khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thường xuyên là: “Thứ nhất, ngân hàng huy động và đi vay vốn thời gian ngắn, sau đó cứ tuần hoàn chúng để cho vay thời gian dài hơn. Do đó nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.” ; “Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tim kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn. Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận.
Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cung là đến thanh khoản của ngân hàng.”; “Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu 7 thanh khoản một cách hoàn hảo. Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng.2 Đo lường rủi ro thanh khoản Theo Aspachs & cộng sự (2005) và Vodová (2011), có nhiều cách khác nhau để đánh giá tình hình thanh khoản của ngân hàng và ở bài nghiên cứu này tác giả sử dụng cách sau: LIQ= Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản Tỷ lệ này biểu thị tỷ lệ tài sản thanh khoản so với tổng tài sản, tỷ lệ này càng cao thể hiện khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt và ngược lại, tỷ lệ này càng thấp thì khả năng thanh khoản của ngân hàng giảm dần. Ngoài cách tác giả đã chọn, vẫn còn các tỷ số thanh khoản tương ứng được dùng làm biến phụ thuộc với những nghiên cứu khác để NC các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM: LIQ2 =Tài sản thanh khoản / (Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn) Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tiền gửi và tiền gửi ngắn hạn càng cao thì thanh khoản của ngân hàng càng mạnh và ngược lại, tỷ lệ này càng thấp thì thanh khoản của ngân hàng càng yếu. LIQ3 = Khoản cho vay / (Tiền gửi + Nguồn vốn ngắn hạn) Tỷ lệ này cho biết tổng tiền gửi và tiền gửi ngắn hạn sẽ là bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn vay, tỷ lệ này càng cao chứng tỏ khả năng thanh khoản của ngân hàng càng yếu và ngược lại tỷ lệ này càng thấp tính thanh khoản càng của ngân hàng càng cao.
LIQ4 = Khoản cho vay / Tổng tài sản Tỷ lệ này thể hiện bao nhiêu phần trăm tổng tài sản là nợ vay, tương tự LIQ3 tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng có khả năng thanh khoản yếu và ngược lại.2 Các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản 2.1 Các yếu tố cụ thể • Khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE được tính bằng công thức lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (CSH), cho thấy một đồng vốn CSH mang lại cho CSH bao nhiêu lợi nhuận sau khi khấu trừ thuế TNDN, đo lường hiệu quả trong việc sử dụng vốn CSH của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Hồng (2015) cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa ROE và rủi ro thanh khoản, ngược lại ở một số nghiên cứu khác Vodová (2011), Valla và Escorbiac (2008), Mehmed (2014) cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa ROE và rủi ro thanh khoản. • Tỷ lệ nợ xấu (NPL) NPL thể hiện những khoản nợ khó đòi, có thời hạn quá hạn lớn và được cho là khó có khả năng thu hồi, đây là một trong những tỷ lệ thường được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu của các tác giả Vodova (2011, 2013) và Vũ Thị Hồng (2015) đều cho thấy tỷ lệ nợ xấu NPL có tương quan tích cực đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
• Tỷ lệ cho vay trên tổng huy động (LDR) Tỷ lệ cho vay trên tổng huy động LDR được đo lường bằng tổng dư nợ cho vay khách hàng (KH) trên tổng tiền gửi của KH, đây là chỉ tiêu sinh lời của ngân hàng bằng cách cho vay KH dựa trên tổng tiền gửi mà KH đã gửi tại ngân hàng. Đây là một trong những chỉ số ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Kết quả NC của Vodova (2013), Ha et al. (2022), Yen et al.
(2019), và Mehmed (2014) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa LDR và rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Nhưng nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Hồng (2015) lại cho kết quả nghiên cứu ngược lại. • Tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay trên các khoản cho vay (LLP) 9 Tỷ lệ dự phòng cho vay trên các khoản vay LLP được đo lường bằng tổng số tiền dự phòng rủi ro trên tổng số tiền cho vay, thể hiện phần trăm tiền mà ngân hàng trích ra để dự phòng khi đối mặt với khả năng không thu hồi được khoản nợ từ khách hàng hoặc các khoản đầu tư mất khả năng thu hồi. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Chung (2022) chỉ ra tỷ lệ dự phòng cho vay trên các khoản vay quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản.
• Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LTA) Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LTA) sẽ chỉ ra mức độ tham gia của ngân hàng vào hoạt động cho vay và tiềm năng sinh lời, là một công cụ hữu ích để đánh giá hoạt động cho vay, khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng cũng như tình hình thanh khoản của ngân hàng. Hai bài nghiên cứu trước đây của tác giả Phan Thị Mỹ Hạnh và Tống Lâm Vy (2019), Nguyễn Hoàng Chung (2022) đã cho kết quả LTA có mối quan hệ tích cực với rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam. • Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA) Tỷ lệ vốn CSH trên tổng tài sản ETA được đo lường bằng tổng vốn CSH trên tổng tài sản. Tỷ số này có liên hệ mật thuyết với rủi ro thanh khoản của ngân hàng.Vốn chủ sở hữu như một tấm đệm giúp ngân hàng chống chọi với rủi ro khi trường hợp xấu xảy ra.
Theo các nghiên cứu trước đây của tác giả Bunda và Desquilbet (2008), Vodova (2011), Vodova (2013) và Singh và Sharma (2016) đều cho kết quả tỷ lệ vốn CSH trên tổng tài sản có mối quan hệ tích cực đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. • Quy mô ngân hàng (SIZE) Quy mô ngân hàng được tính theo cơ số 10 logarit, là biến nghiên cứu phổ biến và được sử dụng rất nhiều trong các mô hình NC. Theo kết quả các NC của Bunda & Desquilbet (2008), Mehmed (2014), Vodova (2013), Ha et al. (2022), chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa SIZE và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Tuy nhiên 10 các nghiên cứu của các tác giả Singh và Sharma (2016), Sopan và Dutta (2018), Phan Thị Mỹ Hạnh và Tống Lâm Vy (2019) lại cho kết quả ngược lại.2 Các yếu tố kinh tế vĩ mô • Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (KT) thể hiện xu hướng phát triển của nền kinh tế qua từng thời kỳ khác nhau và là chỉ số được sử dụng rộng rãi trong các mô hình NC. Theo kết quả NC của Moore (2009), Ha et al. (2022), Rauch et al. (2010), Vodova (2011,2013), Mehmed (2014) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa GDP và thanh khoản.
Ngược lại, các nghiên cứu của Aspach at al (2005), Singh và Sharma (2016), Phan Thị Mỹ Hạnh và Tống Lâm Vy (2019) chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa GDP và rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra nghiên cứu của Valla (2008) nói rằng quy mô ngân hàng có thể tương quan âm hoặc dương với rủi ro thanh khoản của ngân hàng. • Tỷ lệ lạm phát (INF) Tỷ lệ lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ, yếu tố này được sử dụng phổ biến trong các mô hình nghiên cứu, là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến nền KT. Kết quả NC của Bunda và Desquilbet (2008), Moore (2009), Singh và Sharma (2016) và Phan Thị Mỹ Hạnh và Tống Lâm Vy (2019) cho thấy INF có mối tương quan dương đến rủi ro thanh khoản ngân hàng.
Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả Ha et al. (2022) cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa INF và rủi ro thanh khoản.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây Đã có rất nhiều bài NC về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam, dưới đây là những bài nghiên cứu tiêu biểu với những góc nhìn và phương pháp tiếp cận khác nhau.1 Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước Đầu tiên là nghiên cứu của Aspachs et al. (2005), nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của các ngân hàng ở Anh được lấy từ bảng cân đối kế toán (CĐKT) và báo cáo thu nhập theo hàng quý, giai đoạn 1985 – 2003.