Chương 1. Tổng quan và cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận mạng xã hội tại các doanh nghiệp thương mại bán lẻ Chương 2. Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến chấp nhận mạng xã hội tại các doanh nghiệp thương mai bán lẻ tại Việt Nam Chương 4.
Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh qua mạng xã hội. 10 CHUONG 1: TONG QUAN VA CO SO LY LUAN VE CAC NHAN TO ANH HUONG DEN CHAP NHAN MANG XA HOI TAI CAC DOANH NGHIEP THUONG MAI BAN LE 1. Tông quan các công trình có liên quan dén luận án Hiện nay các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu tập trung nghiên cứu về thương mại điện tử, mạng xã hội, mạng xã hội và ảnh hưởng của chúng đến hoạt động kinh doanh hoặc nghiên cứu áp dụng phương thức kinh doanh thương mại điện tử trong điều kiện chuyền sang kinh tế thị trường và hội nhập quôc tê. Các nghiên cứu liên quan về mạng xã hội và ảnh hưởng của nó được nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như tác động của mạng xã hội đến việc chuyên đổi phương thức kinh doanh hoặc tác động của mạng xã hội đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận mạng xã hội trong kinh doanh.
Ở mỗi quan điểm tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã khang định các quan điểm, cũng như chỉ ra các kết quả nghiên cứu với những điểm mới và đóng góp mới với bối cảnh và đặc điểm nghiên cứu khác nhau. Mỗi công trình nghiên cứu đều có những đặc điểm mà tác giả có thể tham khảo và kế thừa. Tong quan các nghiên cứu về mang xã hội và ảnh hưởng của mạng xã hội Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, sự bùng nô của công nghệ, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu vào lĩnh vực này. Các nghiên cứu về mạng xã hội và ảnh hưởng của mạng xã hội trên thé giới và ở Việt Nam rất phong phú, có thé phân chia thành 3 hướng nghiên cứu như sau.
Hướng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào các van dé lp thuyết, làm rõ khái niệm mạng xã hội và các chức năng của nó. 11 Mạng xã hội bao gồm các trang web truyền thông tạo thuận lợi cho mối quan hệ hình thành giữa những người dùng từ các nguồn gốc đa dạng, dẫn đến một cấu trúc xã hội phong phú. Nội dung do người dùng tạo khuyến khích yêu cầu và đưa ra quyết định. Do sự liên quan của mạng xã hội với các bên liên quan khác nhau, nó đã nhận được sự chú ý dang kề từ các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả các hệ thống thông tin, kinh tế và xã hội.
Có rất nhiều các nghiên cứu trước đây nghiên cứu hành vi của mạng xã hội cho mục đích tổ chức. Dưới góc độ nghiên cứu này, các nghiên cứu đánh giá đánh giá và đề xuất và nghiên cứu sự tích hợp của nó cho mục đích tô chức. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu đã nghiên cứu tính khả thi của cộng đồng trực tuyến/ mạng xã hội như một phương tiện tiếp thị, trong khi những người khác đã khám phá các khía cạnh khác nhau của mạng xã hội, bao gồm các rủi ro liên quan đến việc sử dụng nó, giá tri mà nó tao ra và sự kỳ thi tiêu cực gan liền với nó trong nơi làm việc. Việc sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin trong các sự kiện quan trọng cũng như tìm kiếm hoặc kết xuất giúp đỡ cũng đã được nghiên cứu trong nghiên cứu trước đây (Kapoor và cộng sự, 2018).
Sự tiến bộ trong khoa học công nghệ, cùng với sự phát triển mạng mẽ của internet và Web 2.0, sự kết nối giữa các cá nhân được mở rộng hơn thông qua mạng internet. Sự phát triển này cho phép khách hàng và doanh nghiệp hợp tác trên internet (Fũller và cộng sự, 2009). Thông qua mang xã hội cho phép người tiêu dùng, doanh nghiệp, nhà cung cấp tương tác trực tuyến thông qua các nền tang xã hội. Một số nên tang xã hội cho phép chia sẻ thông tin.
Ví dụ như Wikipedia, trực tuyến miễn phí bách khoa toàn thư, là một trong những nên tảng phố biến và có cơ sở dé người dùng cộng tac chia sẻ thông tin (Chen và cộng sự, 2011). Hay các nên tảng có khả năng tạo đánh giá và xếp hạng như Amazon.com cho phép khách hàng xem xét và xếp hạng sản phẩm. Ngoài ra các thành viên của nên tảng này là hợp tác phụ thuộc lẫn nhau (Forman, Ghose và cộng sự, 2008). Bằng cách sử dụng mạng xã hội, người tiêu dùng có thể tạo nội dung và mang lại giá tri lời khuyên cho người khác (Fuiller, Mũhlbacher và 12 cộng sự 2009).
Trong nghiên cứu của Kapoor và cộng sự, khi đề cập đến mạng xã hội, các ứng dụng như Facebook, WhatsApp, Twitter, YouTube, LinkedIn, Pinterest và Instagram, các tác giả cho rằng các ứng dụng thường tác động đến tâm trí của người dùng (Kapoor, Tamilmani va cộng sự, 2018). Các ứng dụng này được thúc đây bởi nội dung do người dùng tạo và có ảnh hưởng lớn trong vô số các cài đặt, từ việc mua/ bán hành vi, tinh thần kinh doanh, các vấn đề chính trị đến chủ nghĩa tư bản mạo hiểm (Greenwood và Gopal 2015). Nghiên cứu về hành vi của phương tiện truyền thông của Statista, ứng dụng mạng xã hội Facebook hiện đang dẫn đầu thị trường thế giới mạng xã hội với 1,97 tỷ người dùng hang tháng (Statista, 2017). Bên cạnh Facebook, Lister cũng chỉ ra rang một ứng dung được sử dung dé đăng ảnh và video với khoảng 400 triệu snaps một ngày đã được ghi lại trên Snapchat, với khoảng 9000 ảnh được chia sẻ mỗi giây (Lister, 2017).
Ngoài ra, có hơn hai triệu doanh nghiệp đang sử dụng quảng cáo trên Facebook và 88% các doanh nghiệp đều sử dụng Twitter cho mục đích tiếp thị của doanh nghiệp (Lister, 2017). Các nghiên cứu trên đều tập trung vào hành vi truyền thông của tô chức thông qua mạng xã hội. Một vài nghiên cứu khác về tổ chức sử dụng mạng xã hội chủ yếu chủ yếu với mục đích thu thập phản hồi từ các bên liên quan (Phang và cộng sự, 2015). Đánh giá của người tiêu dùng là một phần quan trọng khác của mạng xã hội, đưa vẫn đề về chất lượng thông tin, độ tin cậy và tính xác thực lên hàng đâu.
Trong nghiên cứu của Tapscott và Williams, mạng xã hội được xem là các công cụ truyền thông. Mạng xã hội được hiểu là các diễn đàn thảo luận hoặc các trang diễn đàn được xây dựng dựa trên nên tảng Web như Facebook, skype,. Nghiên cứu sâu hơn về mạng xã hội, Kaplan và Haenlin đưa ra lý thuyết về sự giàu có của truyền thông dựa trên giả định rằng mục tiêu của bất kỳ giả định rằng mục tiêu của bất kỳ giao tiếp nảo là giải quyết sự mơ hồ và giảm bớt sự không chắc chắn (Kaplan và Haenlein, 2010). Lý thuyết cho răng phương tiện truyền 13 thông khác nhau về mức độ giải mã lượng thông tin cho phép được truyền đi một khoảng nhất định.
Do đó, phương tiện truyền thông nhất định trở nên hiệu quả hơn so với những người khác. Trong nghiên cứu này tác giả cũng nhận định rằng trong bat kỳ loại tương tác xã hội nào, mọi người đều có mong muốn kiểm soát các ấn tượng khác của họ. Điều này được thực hiện với mục đích gây ảnh hưởng đến người khác dé nhận được phần thưởng, cũng như muốn tạo ra một hình ảnh phù hợp với tính cách cá nhân của một người (Kaplan và Haenlein 2010). Trong nghiên cứu của Alshuaibi, Alshuaibi và cộng sự, tác gia đã nhận định rằng ở Malaysia, các loại mạng xã hội, mạng xã hội phô biến và thịnh hành nhất hầu hết đều giống như quan điểm của Kaplan và cộng sự nhưng nó đã có nhiều hơn trên Fecebook, Twitter, Google+, Youtube, Linkedin, Blogs va Wikis (Alshuaibi va cộng sự, 2015).
Cac mang xã hội từ mục đích cá nhân đến kinh doanh. Nó cũng có thê hỗ trợ sự phát triển của một công ty, bằng cách tăng liên hệ với khách hàng và nhà cung cấp, tìm kiếm và phát hiện các nguồn lực hỗ trợ có sẵn và thức day đổi mới và giúp đỡ trong việc xây dựng quan hệ với các đối tác chiến lược (Zontanos và Vàerson, 2004). Cả doanh nghiệp và người tiêu dùng đang sử dụng phương tiện truyền thông mà cụ thể là mạng xã hội để chia sẻ thông tin, trao đổi ý kiến và khuyến nghị, hiện thị hành vi tiêu dùng nhất định (Armstrong và cộng sự, 2011). Mặt khác, phương tiện truyền thông, mạng xã hội được hiểu là các hình thức giao tiếp trực tuyến khác nhau được mọi người sử dung dé tạo mang, cộng đồng va tập thé dé chia sẻ thông tin, ý tưởng, tin nhắn và nội dung khác nhau, chăng hạn như video.
Kane và cộng sự (2014) mô tả mạng xã hội là một lớp công nghệ thông tin hiện đại, tạo điều kiện cho sự hợp tác và giao tiếp giữa các cá nhân thông qua việc sử dụng các nền tảng dựa trên Internet (Kane và cộng sự, 2014). Mạng xã hội đồng thời hỗ trợ truyền thông một-một và đại chúng (Chen và cộng sự, 2013). Các nên tảng mạng xã hội phổ biến nhất là Facebook, Twitter, YouTube và LinkedIn (Kane và cộng sự, 2014). Kê từ khi xuất hiện vào cuối những năm 1990, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu 14 trong cuộc sông của chúng ta với ít nhất 3 tỷ người dùng hiện tại trên thế giới (Tripopsakul, 2018).
Mang xã hội dang thay đôi căn bản cách chúng ta giao tiếp, cộng tác, người tiêu dùng và tạo ra giá trị. Nó cho phép nhiều cách giao tiếp không chỉ giữa người bán và khách hàng mà cả khách hàng phản hồi về các sản phẩm cho công chúng (Tripopsakul, 2018). Ngày nay, khách hàng không còn là người mua và người tiêu dùng thuần túy, mà còn là người đóng góp cho nội dung của sản phâm và dịch vụ trên mạng xã hội. Do đó, mạng xã hội là một trong những tác động biến đổi nhất của công nghệ thông tin (CNTT) đối với kinh doanh cả trong và ngoài ranh giới doanh nghiệp (Aral và cộng sự, 2013).
Mặc dù hàng triệu người trên toàn cầu sử dụng rất nhiều mạng xã hội này, nhưng ứng dụng kinh doanh của họ vẫn còn ở giai đoạn đầu và các nhà nghiên cứu mạng xã hội chưa giải quyết được công nghệ nào được phân loại là xã hội (Kane và cộng sự, 2014).