Chương 1: Giới thiệu. Chương này sẽ trình bày các nội dung về lý do chọn đề tài nghiên cứu, mô tả khái quát mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài và khe hỡ nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hệ số an toàn vốn và các nghiên cứu liên quan. Chương này trình bày các nội dung sau: Cơ sở lý thuyết về hệ số an toàn vốn, một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài về hệ số an toàn vốn, từ đó chỉ ra các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của các NHTM.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các nội dung sau: Giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các biến đưa vào mô hình, mô tả dữ liệu nghiên cứu, quy trình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày về thống kê mô tả các biến đã được đưa vào mô hình, xây dựng các mô hình hồi quy, kiểm định lựa chọn mô hình và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Hàm ý quản trị. Chương cuối của luận văn sẽ nêu kết luận về các yếu tố cũng như tác động của các yếu tố đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng, đưa ra các khuyến nghị đổng thời nêu những hạn chế của luận văn để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ AN TOÀN VỐN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về an toàn vốn ngân hàng 2.
Khái niệm về an toàn vốn ngân hàng An toàn vốn là chuẩn mực kinh tế quan trọng, đo lường sự an toàn và lành mạnh cho ngân hàng và định chế tài chính (Kumar Aspal & Nazneen, 2014). Khi vốn ngân hàng được duy trì ở mức độ an toàn sẽ được đảm bảo hoạt động của ngân hàng diễn đàn một cách thông suốt, có khả năng chống chịu những cú sốc khi nền kinh tế diễn ra bất lợi. Xác định mức độ an toàn vốn là việc ngân hàng điều chỉnhmức độ vốn để có thể hấp thụ tất cả các lỗ bất ngờ phát sinh trong tương lai và đảm bảo an toàn cho các tài sản cố định (Abusharba et al., 2013; Ebhodaghe & John, 1991; Kumar Aspal & Nazneen, 2014). Ngoài ra, cần phải có một khoản tiền dư thừa để đảm bảo hoạt động hàng ngày và mở rộng trong tương lai (Abusharba et al.
Khi ngân hàng duy trì vốn ở mức an toàn theo quy định thì ngân hàng có thể tránh được những thất bại, đổ vỡ bằng cách hấp thụ thua lỗ (Abusharba et al., 2013; Kumar Aspal & Nazneen, 2014). An toàn vốn được xem là một trong những chỉ số về sức khỏe tài chính chính của ngân hàng, phản ánh khả năng mà một ngân hàng có thể chịu đựng được các khoản lỗ phát sinh ngoài dự kiến trong tương lai và việc sử dụng hệ số đòn bẫy tài chính của ngân hàng (Kumar Aspal & Nazneen, 2014). Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là cơ sở để đo lường mức độ an toàn vốn của ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn ánh sự lành mạnh, “sức khỏe” của một ngân hàng để đảm bảo rằng các ngân hàng có thể chịu đựng được mức thua lỗ từ các khoản lỗ hoạt động (Bateni và cộng sự, 2014; Đặng, 2011; Kumar Aspal & Nazneen, 2014). Tỷ lệ an toàn vốn cho thấy sức mạnh nội tại của ngân hàng đảm bảo chịu đựng các khoản lỗ trong thời kỳ khủng hoảng.
Tỷ lệ an toàn vốn càng cao thì sức mạnh nội tại của ngân hàng sẽ càng lớn, đảm bảo hoạt động của ngân hàng diễn ra thông suốt, qua đó bảo vệ lợi ích cho các cổ đông, nhà đầu tư và người gửi tiền (Kumar 8 Aspal & Nazneen, 2014). Quy định về hệ số an toàn vốn của Ủy ban Basel là tiêu chuẩn quốc tế trong việc tính tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng. Ủy ban Basel khuyến nghị các ngân hàng cần duy trì tỷ lệ an toàn vốn ở mức tối thiểu để kiểm soát sự ổn định và hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính (Kumar Aspal & Nazneen, 2014). Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo khuyến nghị của Basel là không thấp hơn 8% (Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel, 2006).
Tuy nhiên, do quy định về ngân hàng trung ương, cơ quan quản lý, giám sát hệ thống tài chính mỗi quốc gia thì tỷ lệ an toàn vốn có một điểm khác biệt như ở Ai Cập tỷ lệ an toàn vốn được quy trình duy trì ở mức tối thiểu là 10% (El-Ansary & Hafez, 2015); Tại Việt Nam tỷ lệ này được Ngân hàng Nhà nước quy định không thấp hơn 9% nếu các ngân hàng tính tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 22/2019/TT- NHNN, không thấp hơn 8% nếu các ngân hàng tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN; Tại Ấn Độ, tỷ lệ toàn bộ vốn cũng được duy trì ở mức tối thiểu là 9% (Kumar Aspal & Nazneen, 2014). Tóm lại, trong nghiên cứu này, tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần được hiểu là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có và tài sản có điều chỉnh theo rủi ro của ngân hàng thương mại, một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực của một ngân hàng về khả năng thanh toán. Các nguyên tắc đánh giá an toàn vốn ngân hàng Để đánh giá mức độ an toàn vốn, theo Ủy ban Basel các ngân hàng phải tuân thủ bốn nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1: Các ngân hàng nên có một quy trình để đánh giá mức độ an toàn vốn tổng thể liên quan đến rủi ro và một chiến lược để duy trì khả năng vốn. Năm đặc điểm chính của một quy trình nghiêm ngặt như sau: Các ngân hàng phải có khả năng chứng minh rằng các mục tiêu vốn nội bộ đã được lựa chọn là có cơ sở tốt và các mục tiêu này phù hợp với các rủi ro tổng thể và môi trường hoạt động hiện tại.
Để đánh giá mức độ an toàn vốn, ban lãnh đạo ngân hàng cần quan tâm đến giai đoạn cụ thể của chu kỳ kinh doanh của ngân hàng đang hoạt động. Cần thực hiện kiểm tra nghiêm ngặt, hướng tới tương lai để 9 xác định các sự kiện có thể xảy ra hoặc những thay đổi trong điều kiện thị trườngcó thể tác động xấu đến ngân hàng. Ban lãnh đạo ngân hàng rõ ràng chịu trách nhiệm chính trong công việc đảm bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để hỗ trợ những rủi ro của mình. Nguyên tắc 2: Kiểm soát viên sẽ xem xét và đánh giá chiến lược an toàn vốn nội bộ của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn.
Nguyên tắc 3: Người giám sát mong muốn các ngân hàng hoạt động trên tỷ lệ mức an toàn vốn tối thiểu và có thể yêu cầu họ nắm giữ vốn vượt quá mức tối thiểu. Có một số cách thức để đảm bảo rằng ngân hàng đang hoạt động với mức độ phù hợp. Trong một số phương pháp, người kiểm soát có quyền thiết lập tỷ lệ vốn mục tiêu hoặc xác định các danh mục trên tỷ lệ vốn tối thiểu. Nguyên tắc 4: Người kiểm soát sẽ can thiệp ngay từ đầu để ngăn vốn giảm xuống mức tối thiểu cần thiết để hỗ trợ các dấu hiệu rủi ro của ngân hàng cụ thể và sẽ yêu cầu giải quyết nhanh chóng nếu vốn không được duy trì hoặc khôi phục.
Các hành động liên quan có thể bao gồm việc tăng cường giám sát ngân hàng, hạn chế trả tiền cổ tức, yêu cầu ngân hàng chuẩn bị và thực hiện phương án phục hồi an toàn vốn thỏa đáng, đồng thời yêu cầu tăng vốn bổ sung ngay lập tức. Kiểm soát viên có toàn quyền quyết định sử dụng các công cụ phù hợp nhất với hoàn cảnh của ngân hàng và môi trường hoạt động. Cách xác định hệ số an toàn vốn ngân hàng Theo quy định tại khoản 2,3 Điều 9 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN (sửa đổi, bổ sung Thông tư 41/2016/TT-NHNN), hệ số an toàn vốn tối thiểu được tính như sau: “2. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng: a) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất.
10 b) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ: Từng ngân hàng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ 9%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ được xác định bằng công thức sau: Vốn tự có riêng lẻ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ = x 100% Tổng tài sản Có rủi ro riêng lẻ Trong đó: - Vốn tự có riêng lẻ được xác định theo quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này. - Tổng tài sản Có rủi ro riêng lẻ là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng được xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tương ứng của cam kết ngoại bảng được xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này. c) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất: Ngân hàng có công ty con, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ theo quy định tại điểm b khoản này phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất 9%.
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất được xác định bằng công thức sau: Vốn tự có hợp nhất Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất = x 100% Tổng tài sản Có rủi ro hợp nhất Trong đó: - Vốn tự có hợp nhất được xác định theo quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này. - Tổng tài sản Có rủi ro hợp nhất được xác định theo quy định tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng công thức sau: Vốn tự có Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (%) = x 100% Tổng tài sản Có rủi ro Trong đó: 11 - Vốn tự có được xác định theo quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này.
- Tổng tài sản Có rủi ro là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng được xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tương ứng của cam kết ngoại bảng được xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này.