chương 1, tác giả đã tổng hợp được các công trình nghiên cứu về đề tài tính tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam và ở nước ngoài. Trình bày được các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến tuân thủ thuế mà các tác giả sử dụng để nghiên cứu. Cùng với các biến là các phương pháp được sử dụng đều có ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Từ đó, các tác giả đã chỉ ra chiều hướng tác động của các biến trong mô hình đến tính tuân thủ thuế TNDN.
Với kết quả tổng hợp thu được từ các nghiên cứu trong quá khứ, tác giả đã tìm ra được một số khoảng trống nghiên cứu để từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu cho bài luận. 9 Ở chương 2, các cơ sở lý thuyết về khái niệm thuế và tuân thủ thuế được trình bày và làm rõ kèm các lý thuyết về tuân thủ thuế để làm nền móng cho thực hiện mô hình hồi quy. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý thuyết về thuế thu nhập doanh nghiệp 2.
Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Hiện nay có nhiều khái niệm về thuế như: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” ( Giáo trình Thuế, Học viện tài chính) Hay theo Luật Quản lý thuế 28/2019/QH14 của Việt Nam: “ Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế” Cho dù cách diễn đạt khác nhau, cách thức thể hiện không giống nhau nhưng các khái niệm đều cho thấy được tầm quan trọng và sự gắn liền của thuế với các hoạt động Nhà nước. Nhà nước ban hành các sắc thuế với các mục đích khác nhau nhưng nhìn chung đều để quản lý thuế bao quát và toàn diện. Một trong những sắc thuế tiêu biểu là thuế thu nhập doanh nghiệp, một sắc thuế đóng góp tỷ trọng lớn trong các sắc thuế phải nộp. Theo Giáo trình Kinh tế quốc dân (2020): “Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế tính trên thu nhập tính thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế”.
Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, thuế TNDN luôn đóng tỷ trọng lớn trong nguồn thu NSNN, có vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều tiết kinh tế nước nhà và là yếu tố đảm bảo sự công bằng xã hội giữa các ngành nghề và giữa các cơ sở kinh doanh cùng ngành, cụ thể: Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp góp phần đảm bảo, là nguồn góp lớn vào NSNN. Hằng năm thuế TNDN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản thu của NSNN bởi phạm vi áp dụng rất rộng, bao quát ở mọi ngành nghề kinh doanh cũng như mọi cơ sở kinh doanh có phát sinh thu nhập tính thuế. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt với sự trỗi dậy phục hồi sau Covid-19, quy mô doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng tăng cao, tích lũy thặng dư của 11 doanh nghiệp ngày càng nhiều sẽ tạo ra một nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN.
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp được đánh giá là công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế nước nhà hiệu quả.Thông qua hệ thống ưu đãi về thuế suất, Nhà nước thể hiện sự quan tâm khuyến khích hay không khuyến khích đến các mặt hàng, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh để đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý. Chính sách ưu đãi thuế gián tiếp khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào các mặt hàng, ngành nghề kinh doanh mà Nhà nước cần tập trung phát triển, khai thác giá trị tiềm năng về vốn trong cộng đồng. Thuế TNDN góp phần đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mới thành lập thông qua hệ thống ưu đãi miễn giảm thuế để giảm bớt gánh nặng tài chính, bớt những khó khăn ban đầu khi khởi nghiệp. Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ trợ các doanh nghiệp có kết quả hoạt động kinh doanh không tốt bằng cách cho chuyển phần lỗ sau khi quyết toán với cơ quan thuế từ các năm trước sang năm sau và số lỗ này được trừ khi tính thu nhập tính thuế.
Thứ ba, đảm bảo được tính công bằng của xã hội thông qua nghĩa vụ thuế. Thuế TNDN là công cụ giúp nền kinh tế tái phân phối thu nhập. Hệ thống Thuế được Nhà nước thiết lập áp dụng thống nhất cho mọi cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh góp phần đẩy mạnh sản xuất kinh doanh phát triển. Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là công cụ đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của đối tượng nộp thuế.Với cùng một mặt hàng và giá bán trên thị trường như nhau thì cơ sở sản xuất nào có giá thành thấp hơn thì sẽ có thu được lợi nhuận nhiều hơn và ngày càng phát triển mạnh.
Thuế TNDN được tính trên phần thu nhập sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý nên cơ sở kinh doanh nào có lợi nhuận cao thì đóng thuế cao, lợi nhuận thấp thì đóng thuế thấp, thậm chí không phải đóng thuế khi cơ sở kinh doanh thua lỗ. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế đánh trực tiếp vào thu nhập cùng với thuế thu nhập cá nhân nên mang đặc điểm tính chất chung của thuế thu nhập và đặc điểm riêng vì đối tượng nộp thuế là các tổ chức kinh tế có phát sinh thu nhập chịu thuế. 12 Thứ nhất, thuế TNDN là loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của sắc thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế đều là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.
Ở loại thuế này không xảy ra sự chuyển giao gánh nặng về thuế giữa hai đối tượng nộp thuế và chịu thuế. Thuế TNDN thường không sử dụng thuế suất lũy tiến như thuế thu nhập cá nhân mà sử dụng thuế suất đồng nhất. Mức thuế suất khác nhau có thể áp dụng đối với các nhóm đối tượng và các loại thu nhập khác nhau tùy thuộc mục tiêu chính sách thuế của mỗi nước. Thứ hai, Thuế TNDN phục thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư.
Đây chính là điểm khác biệt nhất giữa thuế thu nhập và thuế tiêu thụ. Các loại thuế gián thu như thuế GTGT hay thuế TTĐB là được cộng vào giá bán của các sản phẩm là hàng hóa, dịch vụ sau đó người mua hoặc người bán sẽ tính và nộp thuế. Việc đánh thuế có tính đến khả năng của đối tượng nộp thuế. Do thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế và thuế suất nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh phát sinh lợi nhuận mới phải chịu thuế TNDN.
Thứ ba, Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thuế TNDN được coi là một biện pháp hữu hiệu cho việc quản lý thu nhập cá nhân của các nhà đầu tư. Bởi thu nhập mà nhà đầu tư là các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư, góp vốn như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận từ góp vốn liên doanh, liên kết trong và ngoài nước,. là thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN.
Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế được xác định trên hai căn cứ là thu nhập tính thuế trong kỳ và thuế suất doanh nghiệp phải chịu. Thuế TNDN = Thu nhập tính thuế x Thuế suất thuế TNDN 2. Thu nhập tính thuế Thu nhập tính thuế trong kỳ được tính dựa trên cơ sở của 3 chỉ tiêu: Thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các kỳ trước theo công thức: 13 Thu nhập tính thuế trong kỳ = Thu nhập chịu thuế - thu nhập được miễn thuế - Các khoản lỗ được kết chuyển từ các kỳ trước a. Thu nhập chịu thuế là số tiền mà doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế thu được từ hoạt động kinh doanh, sản xuất, dịch vụ và các nguồn thu nhập khác, sau khi trừ đi các chi phí, các khoản trừ được quy định và các chi phí khác liên quan đến việc hoạt động kinh doanh của họ.
Thu nhập chịu thuế = Doanh thu - Các khoản chi được trừ từ hoạt động sản xuất kinh doanh + Thu nhập khác Trong đó: Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt chưa thu được tiền hay đã thu được tiền (theo Luật thuế TNDN 2020, Số: 14/VBHN-VPQH) Các khoản chi phí được trừ: đảm bảo đáp ứng các yêu cầu sau sẽ được trừ khi tính thu nhập chịu thuế, trừ các khoản chi phí không được trừ theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật thuế TNDN 2020: Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; khoản chi cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp; khoản chi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Đối với hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật. Thu nhập khác: thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sử dụng tài sản, quyền sở hữu tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn; khoản thu từ nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; khoản thu từ nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót,.và các khoản thu nhập khác.