CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Dimitropoulos và cộng sự (2009) nghiên cứu về mối quan hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu thực hiện trên TTCK Hy Lạp. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy OLS và thu thập dữ liệu của 101 CTNY trên TTCK Athens từ năm 1995 - 2004 để kiểm định cho các giả thuyết đưa ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn lưu động trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi có tác động tiêu cực đến thu nhập cổ phiếu, trong khi đó tỷ suất lợi nhuận và doanh thu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập cổ phiếu. Meek & Saudagara (1990); Saudagaran & Meek (1997) hay Zarzeski (1996) nghiên cứu xuyên quốc gia về minh bạch thông tin.
Trong đó, kết quả nghiên cứu của Zarzeski (1996) trích trong nghiên cứu của Jeffrey J. Archambault và Marie E. Archambault (2003) chỉ ra rằng mức độ công bố thông tin phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trường thông qua các yếu tố như doanh thu xuất khẩu, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty. Nghiên cứu của bà thực hiện trên 7 quốc gia với 256 công ty có quy mô nhỏ, vừa và lớn.
Almazan và cộng sự (2002) đã công bố công trình "Stakeholders, capital structure and transparency". Công trình này đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tính minh bạch thông tin với cơ cấu vốn trong doanh nghiệp và chỉ ra rằng mức độ minh bạch thông tin càng cao thì các doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn cơ cấu vốn an toàn hơn. Bushman và Abbie J. Smith (2003), với bài báo "Transparency, Financial Accounting Information, and Corporate Governance" (Economic Policy Review), nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin từ BCTC đã được kiểm toán và vấn đề quản trị công ty.
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp. Assaf Razin, Efraim Sadka (2004), với nghiên cứu "Transparency, Specialization and FDI" đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nghiên cứu này chỉ ra rằng các quốc gia có mức độ minh bạch thông tin kém thì dòng chảy FDI cũng suy giảm. Nhóm các đối tượng khác cũng có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên TTCK cần phải kể đến là vai trò của các công ty kiểm toán, công ty xếp hạng tín nhiệm, các quy định pháp luật đối với mức độ minh bạch thông tin của các CTNY.
Vì vậy, nhiều tác giả đã có những bài viết, công trình nghiên cứu phân tích về vấn đề này. Tiêu biểu là c 21 nhóm tác giả Barley và cộng sự (2007) đã có bài viết "Auditor Fees, Market Microstruc- ture, and Firm transparency", đưa ra giả thuyết là phí kiểm toán càng cao thì rủi ro gian lận càng lớn và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết này của tác giả là đúng. Ngoài ra, nhóm tác giả Heibatollah Sami and Haiyan Zhou (2008) với công trình "Do auditing standards improve the accounting disclosure and information environment of public companies? Evidence from the emerging markets in China" đã phân tích tác động của việc ban hành một loạt các chuẩn mực kiểm toán mới (năm 1996) đến môi trường thông tin của TTCK Trung Quốc. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, có sự cải thiện đáng kể về kết quả quản trị đối với các CTNY nhờ việc gia tăng số lượng thông tin được công bố công khai cho các nhà đầu tư.
Robert Bushman và cộng sự (2001) với nghiên cứu "What Determines Corporate Transparency?" đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các CTNY dựa trên 2 nhóm nhân tố: minh bạch TTTC (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin) và minh bạch thông tin quản trị. Nghiên cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố luật pháp và kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp thông qua mẫu khảo sát của các CTNY trên 41 đến 46 quốc gia. Trong đó Bushman và nhóm tác giả xem xét tính minh bạch của BCTC thông qua 5 nhóm nhân tố là: (1) Mức độ công bố thông tin, (2) Mức độ công bố thông tin quản trị công ty, (3) Các nguyên tắc kế toán, (4) Thời gian công bố BCTC, (5) Chất lượng kiểm toán các BCTC được công bố. Qua công trình nghiên cứu này, Bushman và nhóm tác giả kết luận rằng: minh bạch trong quản trị công ty liên quan mật thiết với cơ chế pháp lý, trong khi đó minh bạch thông tin tài chính (TTTC) liên quan chủ yếu đến chính sách kinh tế.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho rằng minh bạch TTTC có liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Cụ thể, công ty có quy mô lớn thì mức độ minh bạch TTTC cao hơn công ty nhỏ. Ngược lại, mức độ minh bạch trong quản trị công ty không liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu của Bushman và nhóm tác giả chỉ dừng lại ở mức thống kê mô tả các nhân tố liên quan đến tính minh bạch thông tin và trình bày các thướt đo để đo lường tính minh bạch thông tin mà chưa đưa ra được mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin.
Năm 2003, một nghiên cứu khác "A multinational test of determinants of corporate disclosure" của Jeffrey J. Archambault và Marie E. Archambault nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các công ty. Theo nhóm tác giả, ở góc độ công ty, các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTTC của doanh nghiệp là: quyền sở hữu (ownership), tình trạng niêm yết (exchange lishtings), chính sách cổ tức (Divi- c 22 dends), kiểm toán (Auditor) và đòn bẩy tài chính (leverage).
Ngoài ra, đối với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, Jeffrey và Maric cho rằng quá trình hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ công bố TTTC của các CTNY. Quá trình hoạt động này gồm: Quy mô công ty (Firm size), lĩnh vực kinh doanh (Number of industries) và doanh thu xuất khẩu (Foreign sales). Bằng nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trên với mẫu khảo sát là 1.000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia (trong quá trình chạy mô hình thì chỉ còn lại 33 quốc gia), Jeffrey J. Archam- bault đã đưa ra được mô hình hồi quy về sự tương quan giữa mức độ công bố thông tin nói chung và TTTC nói riêng của doanh nghiệp với các nhân tố ảnh hưởng đã nêu trên.
Archambault kết luận rằng công bố thông tin như là một chức năng của văn hóa, hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia và các hệ thống chính sách tài chính với hoạt động của công ty. Kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy, mỗi nhóm nhân tố trên đều ảnh hưởng đáng kể đến quá trình công bố thông tin, ngay cả đối với những nhân tố mà trong các nghiên cứu trước khẳng định là không có quan hệ với quá trình công bố thông tin thì ở nghiên cứu này tác giả cũng đã chứng minh là khá quan trọng. Riêng ở góc độ công ty, kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho rằng, hầu hết các nhân tố tài chính và hoạt động đều ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin nói chung và TTTC nói riêng; Riêng các nhân tố như: đòn bẩy tài chính và chính sách cổ tức không có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. Tiếp theo các nghiên cứu trên, ở góc độ nghiên cứu mức độ minh bạch TTTC trong phạm vi một quốc gia, ở châu Á, năm 2005, nhóm tác giả Cheung và cộng sự trong nghiên cứu "Determinants of Coporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kong and Thailand" đã xem xét các mức độ công bố thông tin và tính minh bạch của các CTNY ở 2 thị trường là Thái Lan và Hồng Kông.
Nghiên cứu đưa ra 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và tính minh bạch thông tin là: nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị công ty. Trong nhóm nhân tố tài chính, các tác giả đưa ra mô hình 5 biến tài chính có ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch của TTTC gồm: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính (financial performance), tài sản thế chấp (collateral assets) và hiệu quả sử dụng tài sản (assets utilization). Đối với nhóm nhân tố về quản trị công ty, nhóm tác giả cho rằng các biến có ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch của thông tin gồm: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu của HĐQT và quy mô của HĐQT. Nghiên cứu trên của nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát với số lượng 265 CTNY trên TTCK Thái Lan và 148 CTNY trên TTCK Hồng Kông.
Kết quả nghiên cứu chỉ c 23 ra rằng: mức độ công bố và tính minh bạch thông tin của các công ty Thái Lan thì cao hơn nhiều so với các công ty ở Hồng Kông. Về các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của các CTNY thì ở nhóm nhân tố tài chính: các nhân tố như quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản thế chấp và khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ công khai thông tin của các CTNY ở Hồng Kông, nhưng lại không ảnh hưởng đến các công ty ở Thái Lan. Trong khi đó, các nhân tố quản trị công ty như quy mô và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở Thái Lan nhưng lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở Hồng Kông. Riêng biến "tỷ lệ các giám đốc điều hành không phải là thành viên của HĐQT" (trong biến cơ cấu của HĐQT) càng lớn thì tính minh bạch và mức độ công bố thông tin của các CTNY càng cao ở cả Thái Lan và Hồng Kông.
Nghiên cứu cũng đã thực nghiệm để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch thông tin và và kết luận rằng quản trị công ty tốt dẫn đến việc công bố và minh bạch thông tin sẽ tốt hơn ở thị trường thái Lan. Năm 2006, trong nghiên cứu với tên gọi "Transparency in Financial Statements: A Conceptual Framework from a User Perpective" của nhóm tác giả Mensah, Michael O; Nguyễn Hồng V. (2006) (Journal of American Academy of Bussiness, Cambridge) đã đưa ra mô hình về các mức độ minh bạch thông tin. Nghiên cứu này chính thức hóa minh bạch là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá các BCTC theo quan điểm của người sử dụng bên ngoài.