Chương I: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHƯƠNG 2 CO SO LY THUYET 2.1 Các khái niệm có liên quan Đề thuận tiện cho việc phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ và tìm ra giải pháp giải quyết phù hợp cho nông hộ trong vùng nghiên cứu, trước tiên cần có một nền tảng lý thuyết làm cơ sở để nghiên cứu được tiễn hành. Thống nhất về mặt khái niệm, các lý thuyết cơ sở để tiến hành thiết kế nghiên cứu. Kế đến là nghiên cứu thực nghiệm: Tổng hợp những nghiên cứu trước đây về tín dụng ngân hàng. Sau đó đề ra giải pháp tối ưu cho nông hộ tiếp cận nguồn vốn và đưa ra mô hình nghiên cứu.1 Tín dụng Tín dụng là sự chuyên nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật, tiền tệ từ người cho vay sang người đi vay.
Trong đó, người đi vay phải hoàn trả cho người chủ sở hữu cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định!. Xuất phát từ credit trong tiếng Anh — có nghĩa là lòng tin, sự tin cậy, sự tín nhiệm. Tín dụng là khái niệm thê hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi.
Tín dung co vi tri quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh, các hình thức tín dụng chủ yếu bao gồm: tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Trong đó, tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng là các hình thức tín dụng chính thức, tín dụng thương mại là hình thức tín dụng phi chính thức. Có thể diễn giải khái niệm này một cách đơn giản hơn như sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế- xã hội và có nhiều quan điểm khác nhau tùy theo từng cấp độ nghiên cứu”. 1 Thái Văn Đại, 2008 ? https://voer.vn Tín dụng là sự chuyên nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để một thời gian sẽ thu hồi một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu).
Trong nền kinh tế hàng hóa có nhiều loại hình tín dụng như: Tín dụng thương mại, tín dụng tiêu dùng, tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng, các hình thức tín dụng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là mối quan hệ có tác dụng qua lại, tạo sự tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi giữa các tổ chức tín dụng với các tổ chức cá nhân được thực hiện dưới hình thức trao đổi tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả có lãi suất.2 Tín dụng chính thức Tín dụng chính thức là khoản tín dụng được cung cấp bởi các định chế tài chính thức. Định chế tài chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ đăng ký hoạt động theo pháp luật của nhà nước, chịu trách nhiệm nộp các khoản thuế theo quy định của nhà nước. Như vậy, được sự cho phép của Nhà nước các hình thức tín dụng chính thức được xem là các hình thức tín dụng hợp pháp và hoạt động dưới sự giám sát và chi phối của Ngân hàng Nhà nước. Các nghiệp vụ hoạt động như quy định khung lãi suất, quy định cho vay, huy động vốn và những dịch vụ khác được cung cấp bởi các tổ chức tài chính chính thức phải chịu sự quy định của Luật ngân hàng.
Các tô chức tài chính, chính thức bao gồm các Quỹ tín dụng nhân dân; Ngân hàng thương mại, các chương trình trợ giúp của Chính phủ. Tín dụng phi chính thức Tín dụng phi chính thức là hình thức tín dụng được dùng đề chỉ những quan hệ tín dụng không chính thức hoặc nữa công khai và vượt ra ngoài khuôn khổ của thể chế pháp lý của nhà nước hiện hành, yếu tố cơ bản cần xem xét về tín dụng phi chính thức đó là yếu tố cơ bản nhất là lãi suất. Hình thức tín dụng phi chính thức là 3 hfips:/woer.vn * Dinh Phi Hồ, 2008 Š $6 tay tin dung, NHNN&PTNT những giao dich tài chính trực tiếp giữa các chủ thê kinh tế với nhau và những giao dịch tài chính gián tiếp vượt ngoài khuôn khô của luật tổ chức tín dụng và không thông qua những tổ chức tín dụng hoạt động trong nước. Những mối quan hệ này rất đa dạng và phức tạp, phát sinh dựa trên cơ sở những quan hệ tình cảm gần gũi như họ hàng, bạn bè,.
Tín dụng phi chính thức ở khu vực nông thôn chủ yếu xuất phát từ những nguồn như sau vay mượn từ gia đình, bà con, bạn bè, láng giềng, từ người cho vay lay lãi, chủ cửa hàng bán vật tư nông nghiệp, thương lái hoặc tham gia hui. Như vậy: Tín dụng không chính thức là hình thức tín dụng nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước, chúng tồn tại đa dạng và phong phú dưới nhiều hình thức và nguồn cung cấp như thương nhân, cho vay chuyên nghiệp, bạn bè, người thân, hụi. Cá nhân người cho vay và người đi vay tự thỏa thuận lãi suất cho vay trên thị trường, trong đó bao gồm cả hoạt động cho vay nặng lãi trái với quy định của pháp luật Nhà nước. Tín dụng chính thức được sự kiểm soát bởi các cơ quan quản lý Nhà nước trong khi tín dụng không chính thức hoàn toàn không được kiểm soát.
Thị trường tín dụng không chính thức bao gồm các chương trình của những tô chức phi chính phủ hoặc tổ chức tình nguyện tư nhân tham gia vào cho vay, cá nhân cho vay, thương nhân. Thị trường chính thức bao gồm hệ thống các tổ chức ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng. Các tổ chức ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng địa phương và ngân hàng chính phủ. Tín dụng nông thônế Là các khoản vay dành cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn nông thôn, phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác liên quan đến nông trại và phi nông trại.5 Tín dụng thương mại” Là hình thức tín dụng trong đó người bán, nhà cung cấp đồng ý cho người mua trả chậm giá trị hàng hóa đã mua trong một khoảng thời gian nhất định.
5 Số tay tín dụng, NHNN&PTNT 7 S6 tay tin dung, NHNN&PTNT 2.6 Khái niệm về hộ và nông hộ? “Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng” Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm hộ trên, có thể rút ra một số đặc trưng về hộ: Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc, Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, và cùng tiễn hành sản xuất chung. Nông hộ là hộ nông dân có phương tiện kiếm sống từ rộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất. Nói chung, đó là những hộ sống bằng thu nhập từ nghề nông. Ngoài ra, hộ còn có thé tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ.
Hộ là tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo cho sự ton tại của hộ.7 Kinh tế nông hộ? Kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao.2 Vai trò của nông hộ trong nền kinh tế!? 2.1 Bản chất kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự cấp hoặc có sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Đặc trưng của kinh tế nông hộ là các thành viên trong nông hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân gia đình mình. Mặc khác, tính tự chủ trong kinh tế nông hộ được thể hiện ở những đặc điểm Sau: 3 lúc Gê, 1989 ° Mức Gô, 1989 a !9 https://voer.vn (đại học kinh tê quốc dân) - Làm chủ quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nông nghiệp. - Sắp xếp điều hành phân công lao động trong quá trình sản xuất.
- Quyết định phân phối sản phẩm làm ra sau khi đóng thuế cho nhà nước, được chọn quyền sử dụng phần còn lại. Nếu có sản phâm dư thừa, hộ nông dân có thê đưa ra thị trường tiêu thụ đó là sản phâm hàng hóa.2 Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển kinh tế nôngthôn Nhiều nhà kinh tế có quan điểm khác nhau về thị trường tín dụng nông thôn. Một quan điểm cô điển cho rằng người cho vay nặng lãi tại khu vực nông thôn cho vay mang tính độc quyền. Một quan điểm khác cho rằng thị trường tín dụng nông thôn là hoàn hảo, có tính cạnh tranh cao và minh bạch.
Hai quan điểm trên cũng không giải thích rõ là tín dụng chính thức và phi chính thức cùng tồn tại, mặc dù lãi suất tín dụng chính thức thấp hơn. Các nhà kinh tế công nhận là tín dụng có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Vai trò của hệ thống Ngân hàng thương mại ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Nhà nước thì tín dụng Ngân hàng là một công cụ đắc lực và hữu hiệu trong quản lý kinh tế.
Đối với các doanh nghiệp, cá nhân thì tín dụng là nguồn vốn đáp ứng cho sự thiếu hụt về vốn sản xuất và tiêu dùng hoặc nhu cầu mở rộng quy mô phát triển, nâng cao thương hiệu và chất lượng sản phẩm. Vai trò của tín dụng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn và được thể hiện qua các mặt sau: Thúc đây hình thành thị trường tài chính ở nông thôn và là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ.