Chương 1 trình bày về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng khảo sát là những người lao động làm việc trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại tỉnh Tiền Giang. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tác giả trình bày các khái niệm về tiền lương, vai trò tiền lương, các lý thuyết về tiền lương, hình thức trả lương, các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương trong doanh nghiệp, các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại tỉnh Tiền Giang.
Các khái niệm về tiền lương Từ điển Webster (2014) “Tiền lương – Wage” là số tiền mà người lao động được trả theo từng ngày, từng giờ, theo tuần, tháng hoặc giai đoạn, dựa trên thỏa thuận các bên, trả theo mức độ hiệu quả công việc hoặc khối lượng công việc, dịch vụ. Smith (1904), chỉ ra rằng xã hội có 3 giai cấp tương ứng với 3 hình thức thu nhập: địa chủ - địa tô, nhà tư bản – lợi nhuận và công nhân – tiền lương. Trong đó, lương là thu nhập của người lao động lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nghĩa là nếu tốc độ tăng của cải quốc gia này tăng thì tiền lương tăng và ngược lại. Ngoài ra, lương cũng bị ảnh hưởng bởi một số đặc điểm liên quan đến lao động như điều kiện lao động, tính chất công việc, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp,…những ngành kinh tế nào mà điều kiện lao động khó khăn thì lương cần phải trả cao hơn để thu hút lao động.
Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO,2006), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm. Ở Pháp, sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, phụ khoản khác được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động. 8 Ở Đài Loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc, bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày, tháng, theo sản phẩm. Ở Nhật Bản, tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách điều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoản thời gian không làm việc như nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hay nghỉ lễ.
Theo CIEM (2012) “Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân, được Nhà nước phân phối cho người lao động, chịu ảnh hưởng của các nhân tố: trình độ phát triển sản xuất, quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng trong từng thời kỳ và chính sách của nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế chính trị trong thời kỳ đó”. Nếu điều kiện kinh tế phát triển cùng với khoa học kỹ thuật tiến bộ, thì năng suất lao động tăng lên, tiền lương và thu nhập của người lao động cũng tăng theo và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tuổi, ngành nghề, kinh nghiệm làm việc, trình độ, giới tính, vị trí công việc…. thì tiền lương sẽ khác nhau. Bojas (2005) cho rằng, tiền lương của người lao động phụ thuộc vào độ tuổi của người đó.
Mức tiền lương là tương đối thấp đối với lao động trẻ và tiền lương sẽ tăng lên đối với lao động lớn tuổi. Điều này được trình bày thông qua mối quan hệ và số năm đi học “đường cong học vấn” thể hiện các đơn vị sử dụng lao động sẵn sàng trả lương tương ứng với từng cấp học. Mincer (1974) và Borjas (2005) cho rằng, người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp được trả lương ít hơn so với người lao động làm việc trong ngành công nghiệp và dịch vụ, cũng trong cùng một ngành nghề, tiền lương của người lao động phụ thuộc vào nghề nghiệp và kinh nghiệm làm việc của họ. Ngoài ra, do những công việc phức tạp được trả lương cao hơn những công việc đơn giản và thời gian làm việc dài hơn nhưng họ nhanh chóng hoàn thành công việc nhanh hơn và tốt hơn những người ít kinh nghiệm hơn, như vậy họ sẽ được trả lương cao hơn.
9 Trần Thị Tuấn Anh (2019) cho rằng, quá trình tăng trưởng và phát triển của các quốc gia luôn kéo theo hệ quả về chênh lệch thu nhập, mức sống trong xã hội. Chênh lệch thu nhập theo giới tính là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới. Thu nhập có chênh lệch giữa hai nhóm lao động nam và nữ, chênh lệch này xảy ra ở cả hai khu vực nội thành và ngoại thành trên địa bàn TP. Theo Nguyễn Hữu Dũng (2010), chính sách tiền lương là một trong những nội dung quan trọng của thể chế kinh tế thị trường, là vấn đề tổng hợp có nhiều mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội tương tác chặt chẽ với nhau, liên quan đến vấn đề sở hữu, phân bổ nguồn lực, tích lũy và tiêu dùng, phát triển nguồn nhân lực, an sinh xã hội.
Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2010), tiền lương có thể được hiểu là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó, mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cấm. Theo điều 90 Bộ luật lao động 2012, “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Theo Nghị định số 157/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động như sau: Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp năm 2019 như sau: a) Mức 4.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I; b) Mức 3.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II; c) Mức 3.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III; 10 d) Mức 2.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV; Tóm lại, tiền lương của người lao động theo cách hiểu trong luận văn này có nghĩa là mức tiền lương thể hiện trên hợp đồng lao động mà đơn vị sử dụng lao động trả cho người lao động được sự thoả thuận giữa hai bên về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.2 Vai trò của tiền lương Theo Umar (2012), tiền lương giữ vai trò quan trọng nhất đối với ngành công nghiệp vì nó phản ánh quy mô giá trị công việc của ngành với chính người lao động, gia đình và cộng đồng.
Tiền lương rất quan trọng đối với ngành công nghiệp vì nó phản ánh các nỗ lực của ngành trong việc bảo việc nguồn nhân lực để có lòng trung thành và người lao động làm việc hết mình. Chiến lược tiền lương hiệu quả được kỳ vọng sẽ góp phần duy trì khả năng tồn tại của lực lượng lao động, cũng như để đạt năng suất lao động. Sử dụng đúng đắn tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi con người, phát huy tài năng sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động (Đỗ Văn Tính, 2015). Về mặt sản xuất và đời sống, tiền lương có các vai trò cơ bản sau: Vai trò tái sản suất sức lao động: Sức lao động là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất để đảm bảo tái sản xuất và sức lao động cũng như lực lượng sản suất xã hội, tiền lương cần thiết phải đủ nuôi sống người lao động và gia đình họ.
Đặc biệt là trong điều kiện lương là thu nhập cơ bản. Mức lương tối thiểu là nền tảng của chính sách tiền lương và tiền công, có cơ cấu hợp lí về sinh học, xã hội học… Đồng thời người sử dụng lao động không được trả công thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định. Vai trò kích thích sản xuất: Chính sách tiền lương đúng đắn là động lực to lớn nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người trong việc thực hiện các mục tiêu kinh 11 tế - xã hội. Vì vậy, tổ chức tiền lương và tiền công thúc đẩy và khuyến khích người lao động nâng cao nâng suất, chất lượng và hiệu quả của lao động bảo đảm sự công bằng và xã hội trên cơ sở thực hiện chế độ trả lương.
Vai trò thước đo giá trị: Là cơ sở điều chỉnh giá cả cho phù hợp. Mỗi khi giá cả biến động, bao gồm cả giá cả sức lao động hay nói cách khác tiền lương là giá cả sức lao động, là một bộ phận của sản phẩm xã hội mới được sáng tạo nên. Tiền lương phải thay đổi phù hợp với sự dao động của giá cả sức lao động. Vai trò tích lũy: Bảo đảm tiền lương của người lao động duy trì được cuộc sống hàng ngày và còn có thể dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc xảy ra những bất trắc.3 Các lý thuyết về tiền lương theo quan điểm kinh tế học: 2.1 Lý thuyết vốn con người: Theo quan điểm kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, mức lương cân bằng xác định bởi giao điểm giữa cung và cầu về lao động.
Tuy nhiên, thị trường lao động được thể hiện như một thị trường đặc biệt khác với loại thị trường khác. Các phương pháp tiếp cận nguồn vốn con người thường được sử dụng để giải thích sự khác biệt về tiền lương. Lý thuyết vốn con người bởi tác giả Human capital theory đã được đề xuất bởi Schultz (1961) và phát riển rộng rãi bởi Becker (1964), lý thuyết này được phát triển do nhận thức rằng sự tăng trưởng của vốn vật chất con người là một phần của sự tăng trưởng trong tăng trưởng thu nhập.