Chương I: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu, giới thiệu về Xí nghiệp khai thác dầu khí, lý do chọn đề ¡, mục tiêu nghiên cứu phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, hàm ý quản trị của đề tài và bố cục của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu của các tác giả trước, cơ. lý thuyết về sự gắn kết của kỹ sư tự động hóa. Từ đó, lập luận các giả thuyết và đề xuất ra mô hình nghiên cứu.
" Chương 3: Thiết kế nghiên cứu, trình bay quy trình nghiên cứu, mô tả phương pháp định tính, phương pháp định lượng, xây dựng thang đo các thành phần trong mô hình nghiên cứu dé thu thập dữ liệu. Chương 4: Kết quả phân tích dữ li \ghiên cứu, cùng đánh giá các kết quả có được, Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự gắn kết của kỹ sư tự đông hóa với tổ chức tại Xí nghiệp Khai thác Dẫu khí (OGPE). TOM TAT CHUONG 1 Chuong | gidi thigu tông quan về đẻ tài nghiên cứu với các nội dung vẻ lý do chọn đề tài, mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu, các câu hỏi nghiên. cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc.
Những nội dung này sẽ tạo cơ sở giúp cho việc trình bày về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu được thuận lợi ở phần tiếp theo. 12 CHƯƠNG2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm kỹ sư tự động hóa 2.1 Khái niệm nguân nhân lực. Theo Liên hiệp quốc “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới định nghĩa Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thẻ lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân.
Như vậy, ở đây nguồn nhân lực con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. “Trong doanh nghiệp, nguồn nhân lực được so sánh với nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật, máy móc và nó luôn có sự khác biệt bởi vì nó xuất phát từ chính bản thân cá. nhân của con người. Thành phần chính của nguồn nhân lực là thể lực và trí lực.
Con người càng phát triển thì nguồn nhân lực cũng phát triển theo. Để đáp ứng được con người tham gia vào lao động, sản xuất thì điều kiện cần là nguồn lực phải đủ lớn (Viện Nghiên Cứu Phát triển Nguồn nhân lực Việt, 2022) “Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất cho xã hội, cung cắp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nhân lực bao gồm. toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong đô tuổi lao đông, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ cá nhân cụ thê tham gia vào quá trình lao động, là tông thê các yếu tố thể lực va trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực được thể hiện ở hai mặt: 1) Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao đông làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao đông có thể huy động từ họ; 2) Về chất lượng, đó là sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những. người lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc 13 làm.
Nguồn lao động cũng được hiểu trên mặt số lượng. Như vậy, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao đông, đó là những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không. có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học. Trong thời đại ngày nay, con người được coi là: “tải nguyên đặc biệt”, nguồn lực của sự phát triển kinh tế.
Bởi vậy việc tập trung vào con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi tổ chức, đơn vị. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố dam bảo chắc chắn cho sự phỏn vinh, thịnh vượng của tô chức, đơn vị đó. “Theo Nguyễn Sinh Cúc (2014) thì nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong. và ngoài nước) bao gồm: có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn có tác phong làm việc tốt trách nhiệm với công việc), 2.2 Khái niệm kỹ sư tự động hóa Theo Đại học Kinh tế - Tài chính, tự động hóa là một ngành công nghệ liên quan đến việc ứng dụng công nghệ hiện đại về cơ khí, điều khiển và máy tính trong.
lệc vận hành sản xuất. Kỹ sư tự động động hóa là người theo đõi các hệ thống điều khiển, vận hành thiết bị tự động cho một dây chuyển sản xuất, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống điện tự động. Tại Xí nghiệp Khai thác dầu khí OGPE, kỹ sư tự động hóa được đánh giá là một nguồn nhân lực có chất lượng cao, bao gồm những cán bộ công nhân viên đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành có liên quan đến điện, tự đông hóa và có thể đảm nhận những vị trí công việc như sau: thiết kế hệ thống tự động hóa, vận hành và bảo trì hệ thống điện, điện tử, tự động, phân tích nhu cầu hệ thống điện, tự động hóa, lập trình ứng dụng các chương trình điều khiển cho hệ xử vi, PLC, CNC, bộ điều khiển về lập trình các thiết bị phục vụ cho sản xuất liên quan đến lĩnh vực dầu khí tại các công trình bờ và công trình biển (OGPE, 2022).2 Khai iệm về sự gắn kết của nhân viên Sự gắn kết của nhân viên là một thuật ngữ có từ lâu đời, chưa có định nghĩa hoàn chinh và mỗi định nghĩa hướng thuật ngữ này theo nhiều cách khác nhau. Đó là một trạng thái tâm lý như sự cam kết, gắn bó với công ty, nâng cao hiệu quả làm việc.
Gallup, một tổ chức nghiên cứu và thăm dò ý kiến của Hoa Kỳ, cho rằng một nhân viên gắn kết với tô chức là khi nhân viên đó nhiệt tình, tận tâm với công việc. Deloitee, một công ty kiểm toán danh tiếng hàng đầu trên thế giới, lại định nghĩa gắn kết là khi một nhân viên hài lòng, trung thành và nỗ lực hết mình vì mục tiêu của công ty. 'Kahn (1990) cho rằng gắn kết với tô chức là dành cả tâm tư, trí tuệ, hiểu biết và thể chất đẻ thực hiện công việc ở tổ chức đó. Quan điểm mang tính vĩ mô, và có thể khiến người ta liên tưởng đến các khái niệm về sự hai lòng, hay động lực.
Nhân viên gắn kết sẽ làm việc với niềm đam mê và cảm thấy một kết nói sâu sắc với tô chức. Nhờ vào các nỗ lực, gắn bó của họ mả tô chức được thúc đây và phát triển. Theo Sark (2006), sur gan kết của nhân viên là mức độ cá nhân có thẻ có gắng cùng đồng lòng trong việc thực hiện vai trò công việc của mình. Nghiên cứu của Sark cũng có sự phân biệt giữa cam kết và gắn kết của nhân viên.
Ulrich (2007) có ý kiến rằng sự đóng góp của nhân viên trở thành vấn đẻ quyết định trong kinh doanh bởi vì điều doanh nghiệp mong muốn là tối ưu hóa sức lao động của nhân viên, tiết kiệm tối đa chỉ phí đào tạo nhân viên, điều này dẫn đến doanh nghiệp luôn tìm cách đưa ra các lợi thể và điều kiện thích hợp để từ đó làm tăng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức. Một số nghiên cứu gần đây lại chỉ ra rằng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức thể hiện bởi sự cam kết của nhân viên và hành vi công dân tô chức. Cam kết đó được khái niệm hóa như một sự gắn bó tích cực và sàng để phát huy năng lượng cho sự. thành công của tổ chức, nhân viên cảm thấy tự hảo là thành viên của tổ chức đó và tự xác định vị trí của mình với tổ chức đó.
Hành vi công dân của nhân viên là việc nhân viên thể hiện bản thân họ thông qua các sáng kiến, sáng tạo, chủ động tìm kiếm cơ hội để đóng góp tốt nhất cho tổ chức và phát triển hơn nữa trong công việc (Makos & Sridevi, 2010) 15 Sự gắn kết của nhân viên là việc cá nhân bày tỏ trạng thái với tổ chức thông qua các hành động như là: nhận định (nhân viên nói về tổ chức với người khác làm trong và ngoài tổ chức với một thái độ tích cực), ở lại (nhân viên thể hiện muốn trở. thành thành viên của tổ chức), phần đấu (nhân viên nỗ lực tham gia vào các hoạt động. của tổ chức và góp phần tạo ra thành công cho tổ chức). Theo Robinson và các cộng sự (2004) cho rằng: thái độ tích cực của nhân viên đối với công ty phụ thuộc bởi mức.
độ mà công ty đã hỗ trợ thể hiện sự gắn kết của nhân viên đó. Theo Benkadar và Pandita (2014) sự gắn kết được công nhận là một yếu tố quan trọng trong việc được xác định mức độ hiệu quả , đổi mới và cạnh tranh của tô chức đó. Markos và Sridevi (2010) cho rằng tất cả các khái niệm sự gắn kết của nhân viên đều mang tính tông. quát và chưa có khái niệm nào là duy nhất và cụ thể.
Các thuật ngữ này thường xuất hiện nhiều trong các tạp chí còn trong các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm thì ít hơn. Bởi thế sự gắn kết của nhân viên với tổ chức đang được nhìn dưới nÌ góc nhìn khác nhau.3 Các thành phần của sự gắn kết Sự gắn kết với tô chức đã được định nghĩa và được thé hiện qua nhiều thang đo khác nhau. Mowday và các nhân sự cộng tác với ông (1979) cho rằng sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Sự đồng thuận , mục tiêu của cá nhân và mục.