Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực tr ng ho t động trả nợ vay đối với khách hàng cá nhân t i VietinBank Chi nhánh Cần Thơ Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trả nợ vay của khách hàng cá nhân t i VietinBank Chi nhánh Cần Thơ Chương 5: Kết luận và kiến nghị 4 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Các vấn đề về cơ sở lý luận, các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về rủi ro trả nợ vay; và phương pháp nghiên cứu sẽ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trả nợ vay đối với khách hàng cá nhân t i VietinBank Chi nhánh Cần Thơ thông qua xây dựng mô hình logit đa thức để ước lượng sự ảnh hưởng của các biến đến rủi ro trả nợ vay là những vấn đề được đề cập trong chương 2.Tín dụng ngân hàng Theo quyết định số 1627 2001 QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng (TCTD) giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và một thời h n nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận cho khách hàng sử dụng một tài sản bằng tiền, tài sản thực hoặc uy tín với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng hay các nghiệp vụ khác.Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời h n nhất định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng ngân hànggồm có 3 yếu tố sau:Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng, sự chuyển nhượng mang tính t m thời và có thời h n, sự chuyển nhượng có kèm theo chi phí. Tín dụng cá nhân * Khái niệm: Tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó ngân hàng thương m i đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho khách hàng cá nhân với mục đích phục vụ đời sống hoặc sản xuất kinh doanh.
* Đặ đ ểm của tín dụng cá nhân Theo Đường Thị Thanh Hải (2014) th đặc điểm của tín dụng cá nhân gồm các đặc điểm như sau: Thứ nhất,quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh ho t.Lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định t i một mức nhất định. Tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín 5 dụng của ngân hàng. Bởi quy mô của m i khoảnvay thường nhỏ nhưng số lượng các khoản vay l i rất lớn. Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác.
Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ. Thứ hai, tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro cao.Rủi ro trong cho vay đối với khách hàng cá nhâncao hơn cho vay doanh nghiệp bởi v :Rủi ro về lãi suất. Đối với cho vay doanh nghiệp, ngân hàng và khách hàng thường có sự thỏa thuận là lãi suất được điều chỉnh theo từng kỳ h n nhất định trong suốt thời h n cho vay. V vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất đối với cho vay doanh nghiệp sẽ thấp hơn so với cho vay cá nhân.
Cho vay khách hàng cá nhân dễ gặp rủi ro đ o đức. hả năng hoàn trả vốn vay phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay. Tuy nhiên có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà khách hàng không thể thực hiện trả nợ hoặc tr hoãn trả nợ gây ảnh hưởng đến hiệu quả ho t động tín dụng của ngân hàng.Lợi nhuận từ tín dụng cá nhân lớn. Lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của NHTM.
Điều này xuất phát từ các khoản tín dụng cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các lo i cho vay của NHTM. Thứ ba, các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh ho t. hách hàng cá nhân thường ít “nh y cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định t i một mức nhất định.
Đối với các khoản cho vay ngắn h n, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời h n vay. Đối với những khoản vay trung và dài h n, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh m i năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng. Thứ tư, tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Bởi quy mô của m i khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể song số lượng các khoản vay l i rất lớn.
Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá tr nh cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ.2 Cơ sở ý yế ề ủ o o g o ay đố ớ k á g á â Vấn đề các ngân hàng đang đối mặt là rủi ro tổn thất trong ho t độngtín dụng do khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết. Để giúp ngân hàng tìm được đúng khách hàng, đúng mục đích nhằm h n chế rủi ro trong cho vay, khắc phục 6 tình tr ng nợ quá h n, nợ xấu thì vấn đề thông tin bất đối xứng hay nói cách khác là sự cân bằng thông tin cần được các ngân hàng cần chú trọng. Khái niệm thông tin b đối xứng Lý thuyết thông tin bất đối xứng ngụ ý rằng người cho vay không hiểu rõ khách hàng như chính bản thân họ nên khó có thể phân biệt khách hàng này với khách hàng khác, nhất là về phương diện rủi ro.
Tín dụng thương m i được xem là một giải pháp cho các vấn đề của thông tin bất đối xứng trong các giao dịch tín dụng chính thức. Theo Phan Đ nh hôi và Võ Thành Danh (2005) h n chế tín dụng là do sự bất đối xứng về thông tin: Rủi ro đ o đức và lựa chọn sai lầm. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin bất đối xứng trong cho vay nhưng nói khác hơn thông tin bất đối xứng xảy ra khi người vay có nhiều thông tin về các dự án, mục đích trong hợp đồng vay hơn người cho vay, bên vay nhận biết r hơn về rủi ro của dự án hơn người cho vay. Trong ho t động tín dụng thì rủi ro đ o đức là rủi ro mà người vay có thể tham gia vào các ho t động làm giảm xác suất khoản vay được hoàn trả và có thể phát sinh trước và sau khi thực hiện.
Riêng đốivới lựa chọn bất lợi xảy ra khi người cho vay không đánh giá chính xác dự án trong các hợp đồng cho vay. Người cho vay có thể lựa chọn sai lầm tức là những dự án có cơ hội thành công thấp để cho vay, trong khi đó các dự án khả thi hơn l i không được chấp thuận. Khái niệm rủi ro trả n vay Trước khi tìm hiểu thế nào là rủi ro trả nợ vay, cần hiểu rõ thế nào là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng có nhiều định nghĩa khác nhau : Là khả năng xảy ra tổn thất trong ho t động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết (Khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân lo i nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong ho t động ngân hàng của tố chức tín dụng).
Đây còn gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là lo i rủi ro liên quan đến chất lượng ho t động tín dụng t i ngân hàng. Nguyễn Minh Kiều (2009) cho rằng RRTD là lo i rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng h n cho ngân hàng.Lê Thị Mận 2010 định nghĩa RRTD là lo i rủi ro phát sinh do khách hàng vay không đủ khả năng chi trả cho ngân hàng. Các khoản cho vay khách hàng cá nhân bao giờ cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao. Bởi đối tượng cho vay là các cá nhân, hộ gia đ nh có t nh h nh tài chính dễ thay đổi tùy 7 theo tình tr ng công việc và sức khỏe của họ.Trong ho t động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đ nh thường có tr nh độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, tr nh độ khoa học kỹ thuật l c hậu do đó khả năng c nh tranh trên thị trường kém.
Do vậy Ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro khi người vay bị thất nghiệp, gặp tai n n, phá sản. Mặt khác việc thẩm định và quyết định cho vay khách hàng cá nhân thường không đầy đủ về thông tin cũng là một trong những lý do dẫn tới tình tr ng rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay khách hàng cá nhân. Tóm l i RRTD đối với KHCN là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả nợ đúng h n, không trả hoặc trả không đầy đủ gốc và lãi. Khi xét về khía c nh rủi ro tín dụng thường m nh quan sát khách hàng đó có thực hiện đúng cam kết hay không ở ph m vi tổng thể, nghĩa là một hồ sơ có rủi ro hoặc không có rủi ro.
Trong khi đó, rủi ro trả nợ vay được hiểu theo nghĩa là khách hàng trả nợ sai hẹn so với hợp đồng. Mặc dù rủi ro trả nợ vay có diễn ra trong quá trình vay những vẫn có khả năng trả nợ.