CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Sự cần thiết của đề tài Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành Ngân hàng Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc và đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống các Ngân hàng Thương mại Việt Nam đã có những thay đổi căn bản trong cấu trúc sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Hầu hết đối với các quốc gia có nền kinh tế mới nổi cần phải tập trung kiểm soát rủi ro tín dụng như là yêu cầu không thể thiếu được, ngoài các yếu tố vĩ mô thì các yếu tố thuộc về ngân hàng như: tổng tài sản, quy mô, nợ xấu, thanh khoản,… cũng ảnh hưởng đến tín dụng. Hiện nay, ở các nước phát triển quản trị rủi ro khá chặt chẽ.
Việc xếp hạng tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp được thực hiện theo định kỳ để đưa ra giới hạn tín dụng phù hợp nhằm hạn chế rủi ro. Công tác báo cáo thống kê và dự báo hỗ trợ tích cực cho công tác quản trị điều hành được thực hiện thường xuyên. Vì vậy, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng nước ngoài luôn thấp. Nhưng ở Việt Nam các ngân hàng chưa mặn mà triển khai thực hiện quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế vì ngại tốn kém chi phí để đầu tư công nghệ, con người khi quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế.
Những chuẩn quản lý rủi ro theo Basel, OECD… Rủi ro tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam là mối quan tâm lớn không chỉ riêng ngân hàng mà của nền kinh tế. Với sức ép cạnh tranh, phát triển và đáp ứng việc tăng vốn cũng như những quy định chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian gần đây. Chính vì vậy rủi ro tín dụng xuất hiện không chỉ tác động trực tiếp đến nguồn vốn của các ngân hàng như mất vốn, có thể gây nguy cơ phá sản ngân hàng mà còn tác động đến người đi vay tại các ngân hàng thương mại khác, tình trạng này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhu cầu của cuộc sống ngày càng nâng cao, việc kinh doanh trong xã hội cũng phát triển.
Do đó, nhu cầu về vốn ngày càng tăng. Nhận thấy được điều này các chi nhánh SAIGONBANK ở khu vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và chi nhánh SAIGONBANK Cần Thơ nói riêng đã đẩy mạnh phát triển và mở rộng quy mô tín dụng phục vụ nhiều đối tượng. Tuy nhiên, trong bất kỳ hoạt động nào cũng có tiềm ẩn rủi ro và rủi ro trong hoạt động tín dụng là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra tại ngân hàng. SAIGONBANK cũng không ngoại lệ, trong ba năm 2 trở lại đây chi nhánh SAIGONBANK Cần Thơ đã gặp không ít trở ngại trong công tác thu hồi nợ của khách hàng.
Nền kinh tế gặp khó khăn, những biến động xấu trên thị trường bất động sản, chứng khoán, giá nguyên liệu đầu vào tăng,. đã khiến cho việc kinh doanh của nhiều khách hàng gặp bất trắc, thua lỗ. Chính vì thế, mà việc trả nợ vay cho ngân hàng cũng khó khăn, họ không có nguồn trả nợ. Để hạn chế được rủi ro tín dụng ngay từ ban đầu là hoạt động rất cần thiết cho Ngân hàng.
Vì vậy xây dựng mô hình đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng để hỗ trợ cho cán bộ tín dụng khi cho vay là vấn đề rất quan trọng. Xuất phát từ những lý do trên, tôi xin chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương Chi nhánh Cần Thơ” làm đề tài nghiên cứu.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài này là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cá nhân tại SAIGONBANK Cần Thơ trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng.2 Mục tiêu cụ thể - Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại SAIGONBANK Cần Thơ. - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cá nhân tại SAIGONBANK Cần Thơ. - Đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân tại SAIGONBANK Cần Thơ.3 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi không gian Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cá nhân tại SAIGONBANK Cần Thơ.
Do giới hạn về thời gian, chi phí và khả năng tiếp cận khách hàng nên đề tài chỉ nghiên cứu đến đối tượng là khách hàng có quan hệ tín dụng cá nhân tại SAIGONBANK Cần Thơ.2 Phạm vi thời gian Đề tài sử dụng số liệu trên các báo cáo tài chính về kết quả hoạt động kinh doanh và hoạt động tín dụng của SAIGONBANK Cần Thơ trong 3 năm từ 2015 đến 2017. 3 Số liệu sơ cấp sử dụng cho mô hình định lượng được thu thập dựa trên cơ sở các khoản vay đã phát sinh trước ngày 01/01/2017 và đến ngày 31/12/2017 còn dư nợ và đã phát sinh kỳ thanh toán nợ.3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các yếu tố dẫn đến rủi ro tín dụng của các khách hàng cá nhân đang có quan hệ tín dụng tại SAIGONBANK Cần Thơ từ đó đề xuất giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng.4 Phương pháp nghiên cứu Phương phap tiếp cận xuyên suốt của luận văn là phương pháp định tính kết hợp với định lượng, đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tế nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Phần mềm xử lý dữ liệu thống kê EVIEWS 8 được sử dụng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn.5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Xuất phát từ tình hình thực tế, ngành ngân hàng nước ta đã và đang gặp nhiều khó khăn do sự bất ổn của nền kinh tế. Liên tục những thông tin bất lợi về lĩnh vực ngân hàng xuất hiện, gây ảnh hưởng rất nhiều đến niềm tin của người dân và sự ổn định trong hoạt động ngân hàng.
Một môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay đã đặt ra một vấn đề là làm sao có một khung quản lý rủi ro một cách có hiệu quả, phù hợp với môi trường hoạt động. Vì thế, để giảm thiểu rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng cần tìm ra đâu là các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Từ đó có các biện pháp kiểm soát nguồn vốn vay của khách hàng một cách có hiệu quả và an toàn. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Cơ sở lý luận Phần này trình bày nội dung lý thuyết, diễn giải các khái niệm, vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm: 2.1 Tín dụng ngân hàng a.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Trần Huy Hoàng (2011), tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Ngày nay tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Theo Mathur (2001), giáo sư Gide cho rằng, tín dụng là cuộc trao đổi hoàn thành sau khi hết thời hạn. “It is an exchange which is complete after the expiry of a certain period of time”.
Theo Mathur (2001), giáo sư Cole cho rằng, tín dụng là sức mua không có nguồn gốc từ thu nhập mà được tạo ra bởi các tổ chức tài chính như là bù đắp cho thu nhập nhàn rỗi của người gửi tiền trong ngân hàng hoặc dưới dạng bổ sung vào tổng số tiền hoặc sức mua. “Credit is purchasing power not derived from income but created by financial institutions either as on offset to idle income held by depositors in the bank or as anet addition to the total amount or purchasing power” Theo Hồ Diệu (2003), tín dụng ngân hàng là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản của bên cho vay trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước và phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sở hữu vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” 5 Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm 04 giai đoạn sau: + Giai đoạn xét duyệt cấp tín dụng: Đây là giai đoạn đầu của quá trình cấp tín dụng của ngân hàng. Trong giai đoạn này, ngân hàng nhận và kiểm tra hồ sơ của khách hàng, sau đó tiến hành thẩm định để ra quyết định về việc cấp hay không cấp tín dụng đối với khách hàng. + Giai đoạn phát tiền vay: Sau khi một khoản cấp tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận cấp tín dụng, Ngân hàng thực hiện việc giải ngân vốn cho khách hàng theo tiến độ thực hiện dự án hoặc đề nghị rút vốn vay của khách hàng trên cơ sở kiểm tra các căn cứ phát tiền vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. + Giai đoạn kiểm tra sử dụng vốn: Ngân hàng xây dựng kế hoạch kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng bao gồm các nội dung: khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích không? Tình trạng tài sản bảo đảm như thế nào? Khách hàng có thực hiện các cam kết trong hợp đồng tín dụng không? + Giai đoạn thu hồi nợ: Giai đoạn này được tiến hành song song với quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay của khách hàng.