CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, đóng góp và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chương kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ thanh toán nội địa của khách hàng. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan về sản phẩm thẻ của ngân hàng • Khái niệm thẻ ngân hàng Theo Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng quy định “thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các Điều kiện và Điều Khoản được các bên thỏa thuận”. Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Hiện nay, thẻ ngân hàng còn được tích hợp nhiều chức năng khác thông qua máy ATM hoặc máy POS như xem số dư, sao kê tài sản, chuyển khoản, thanh toán một số loại hoá đơn,. Tất cả các thẻ ngân hàng đều được làm bằng plastic theo kích cỡ chuẩn quốc tế (chiều dài 8,5cm, chiểu rộng 5,5cm, độ dày 0,07cm) và bao gồm các yếu tố căn bản như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của Nhà phát hành, số thẻ, ngày hiệu lực và tên chủ thẻ. Mặt sau của thẻ có dải băng từ hoặc chip điện tử chứa các thông tin được mã hoá theo một tiêu chuẩn thống nhất và ô chữ ký dành cho chủ thẻ.
Ngoài ra, thẻ còn có thể có tên công ty chịu trách nhiệm thanh toán thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo quy định của Tổ chức hoặc tập đoàn thẻ quốc tế… • Phân loại thẻ ngân hàng - Phân loại theo đặc tính kỹ thuật Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): “Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay. Thẻ từ dùng trong thanh toán điện tử là chiếc thẻ nhựa có một dải từ ở mặt sau và một phần dành riêng để chứa chữ ký của chủ thẻ (đối với thẻ tín dụng). Thông tin được ghi trên dải từ và có 3 rãnh (track) chứa thông tin. Thẻ thông minh (thẻ điện tử có bộ vi xử lí chip): Là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ "chip" điện tử Thẻ thông minh an toàn và hiệu quả hơn thẻ băng từ do "chip" có thể chứa thông tin nhiều hơn 80 lần so với dãy băng từ.
- Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ Thẻ tín dụng (Credit Card): Khi sử dụng thẻ này, chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng nhất định để chi tiêu tại những đơn vị chấp nhận thẻ. Hạn mức tín dụng do ngân hàng đưa ra căn cứ vào uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của khách hàng. Đây 6 là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho người sư dụng có thể chi tiêu trước, trả tiền sau. Định kì, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê từ ngân hàng và phải thanh toán số tiền đã chi tiêu.
Tuy nhiên nếu thanh toán không đúng hạn, chủ thẻ sẽ phải chi phí suất chậm trả và các loại phí khác. Sau khi thanh toán đủ số tiền phải trả, ngân hàng sẽ khôi phục hạn mức tín dụng cho chủ thẻ. Điều này tạo nên tính tuần hoàn, là đặc tính ưu việt của thẻ tín dụng. Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là loại thẻ được ngân hàng phát hành cho khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng.
Chủ thẻ chỉ chi tiêu trong phạm vi số tiền mình có trong tài khoản. Hiện nay để sản phẩm mang tính hấp dẫn, nhiều ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền quá số dư trong tài khoản một khoản nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định, hình thức này gọi là thấu chi. Tất cả các khách hàng đều có thể có sở hữu một thẻ ghi nợ vì thủ tục rất đơn giản trong khi để sở hữu một thẻ tín dụng thì ngân hàng phải yêu cầu thẩm định khách hàng một cách kỹ càng hơn. Thẻ trả trước (Prepaid Card): Là một hình thức của thẻ ghi nợ được ngân hàng phát hành dựa trên số tiền mà khách hàng đã ứng trước với ngân hàng mà không cần có tài khoản thanh toán.
- Phân loại theo phạm vi sử dụng của thẻ Thẻ nội địa: Là một loại thẻ do ngân hàng trong nước phát hành, chỉ được dùng trong phạm vi lãnh thổ nước đó. Thẻ quốc tế: Là loại thẻ không chỉ dùng tại quốc gia nơi nó được phát hành mà còn dùng được trên phạm vi quốc tế. Để có thể phát hành loại thẻ này thì ngân hàng phát hành phải là thành viên của một tổ chức thẻ quốc tế.2 Các chủ thể tham gia vào hoạt động dịch vụ thẻ Chủ thẻ (Card holder): Là cá nhân đứng tên xin cấp thẻ hoặc người được ủy quyền (trường hợp đại diện cho khách hàng là một tổ chức) và tên được in nổi trên thẻ. Có thể có chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ.
Ngân hàng phát hành thẻ (Issuing bank): Là ngân hàng, tổ chức được Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ và chịu trách nhiệm về những thẻ do ngân hàng mình phát hành. Ngân hàng thanh toán (Acquiring bank): Được các ngân hành phát hành thẻ ủy quyền hoặc thực hiện theo hợp đồng thanh toán ký với ngân hàng phát hành hoặc là thành viên của tổ chức thẻ nội địa, quốc tế. Ngân hàng thanh toán cung cấp mạng lưới thiết bị chấp nhận thẻ (ATM/POS) và hưởng phí giao dịch thẻ từ đơn vị chấp nhận thẻ và Ngân hàng phát hành thẻ. Đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant): Là tất cả các cơ sở cung cấp hàng hóa, dịch vụ được ủy quyền chấn nhận thẻ làm phương tiện thanh toán.
7 Tổ chức thẻ quốc tế (International Card Acssociation): Là tổ chức cung cấp hệ thống thanh toán thẻ toàn cầu do một hoặc một số định chế tài chính thành lập nên. Hiện nay trên thế giới có một số tổ chức thẻ quốc tế lớn như Visa International, Mastercard, American Express… Trung tâm chuyển mạch (Switching centre): Là đầu mối kết nối hệ thống thẻ của các ngân hàng và tổ chức thanh toán thẻ khác nhau để tạo ra mạng lưới chấp nhận thẻ rộng lớn, giúp chủ thẻ có thể sử dụng thẻ ở bất kỳ đơn vị chấp nhận thẻ có mang thương hiệu chấp thẻ. Ở Việt Nam hiện có ba nhà mạng lớn là BanknetVN, Smartlink và VNBC (Công ty cổ phần thẻ Thông Minh ViNa).3 Lợi ích và rủi ro trong việc sử dụng thẻ 2.1 Lợi ích trong sử dụng dịch vụ thẻ • Đối với Ngân hàng Ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT): Thực hiện tham gia thanh toán thẻ, ngân hàng có thể đa dạng hoá các dịch vụ của mình, thu hút được những khách hàng mới làm quen với dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp, vừa giữ được những khách hàng cũ. Mặt khác thông qua hoạt động phát hành, thanh toán thẻ ngân hàng có thể thu hút một nguồn vốn lớn để bổ sung vào nguồn vốn ngắn hạn từ hoạt động thu phí và lãi do việc phát hành thẻ mang lại.
Khi khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng thì đồng nghĩa với việc khách hàng đang sở hữu một tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng. Số tiền khách hàng duy trì trong thẻ chính là nguồn huy động vốn lớn đối với ngân hàng. Hiện nay, theo Quyết định số 2173/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam ban hành ngày 28 tháng 10 năm 2014 quy định về mức lãi suất phải trả cho tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng chỉ là 1%/năm. Với mức chi phí huy động vốn như trên thì đây là một kênh huy động vốn giá rẻ đối với ngân hàng.
Khi khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thì đây chính là điều kiện để tạo tiền ghi sổ, khi đó chức năng tạo tiền của ngân hàng được thực hiện. Bên cạnh đó, việc đặt các máy ATM hay liên hệ với các cơ sở chấp nhận thẻ mới cũng góp phần mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng, điều này rất có ích ở những nơi mà việc mở chi nhánh là tốn kém. Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): Ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng mình, sử dụng các sản phẩm do ngân hàng cung cấp. Từ đó làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận thông qua hoạt động thu phí đại lí thanh toán, chiết khấu thương mại, phí rút tiền mặt, ngân hàng thanh toán sẽ có được một khoản thu tương đối ổn định.
Bên cạnh đó, thông qua việc sử dụng tài khoản thanh toán, ngân hàng có thể cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức thấu chi tài khoản dựa trên tài sản cầm cố, thế chấp hay tín chấp. Khách hàng sử dụng thẻ tín dụng được ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng theo đó khách hàng sẽ được chi tiêu, thanh toán hàng hóa dịch vụ trong hạn 8 mức tín dụng được cấp. Phương pháp này vừa đơn giản vừa an toàn, giúp ngân hàng mở rộng tín dụng, mở rộng thị trường. Bằng việc gia tăng các tiện ích của thẻ nói riêng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng nói chung, ngân hàng không chỉ duy trì mối quan hệ với khách hàng cũ mà còn thu hút thêm khách hàng mới.
Điều này góp phần phân tán rủi ro, tăng tính cạnh tranh và tăng lợi nhuận của ngân hàng. Mặc dù thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ thẻ chiếm tỷ trọng không lớn trong thu nhập của ngân hàng nhưng đây là nguồn thu tương đối ổn định và không ngừng tăng lên trong thời gian tới. Thêm vào đó, phát triển loại hình dịch vụ này còn tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng, các tổ chức tài chính trên thế giới. Từ đó ngân hàng có thể học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay.