Chương 1 là bước chuẩn bị quan trọng, tạo ra nền tảng cho các chương sau để tiếp tục nghiên cứu một cách chi tiết và có hệ thống. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm của đề tài 2. Khái niệm thạc sĩ Thạc sĩ theo nghĩa đen là từ để chỉ người có học vấn rộng (thạc = rộng lớn; sĩ = người học hay nghiên cứu), nay dùng để chỉ một bậc học vị.
Bậc học vị này khác nhau tùy theo hệ thống giáo dục: “Học vị thạc sĩ trong tiếng Anh được gọi là Master's degree (tiếng Latin là magister), một học vị trên cấp cử nhân, dưới cấp tiến sĩ được cấp bởi trường đại học khi hoàn tất chương trình học chứng tỏ sự nắm vững kiến thức bậc cao của một lĩnh vực nghiên cứu hoặc ngành nghề”. Những người có trình độ thạc sĩ là: “những người có trình độ chuyên ngành vững chắc. Sau khi được học nâng cao và cùng với kinh nghiệm làm việc đã tích lũy được, họ sẽ có thêm kiến thức liên ngành và năng lực thực hiện công tác chuyên môn cũng như nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành đào tạo. Học vị thạc sĩ là một bậc đánh giá trình độ học vấn của một người.
Khái niệm sinh viên Từ điển Giáo dục học định nghĩa rằng: “Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.” Tại Việt Nam, sinh viên được định nghĩa là những người tham gia chương trình đào tạo trình độ đại học hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại học. Sinh viên đóng vai trò trung tâm trong hoạt động giáo dục và đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học, đồng thời được đảm bảo điều kiện để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền lợi trong quá trình học tập và rèn luyện tại cơ sở giáo dục và đào tạo. (Theo Quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo Đại học Hệ Chính quy, Bộ Giáo dục và Đào tạo) 10 Vì vậy, trong báo cáo này, thuật ngữ "sinh viên" ám chỉ những cá nhân tham gia học tập chương trình chính quy toàn thời gian tại cơ sở đào tạo, được xét tuyển thông qua kỳ thi tuyển sinh Đại học do ĐHNH TP.
HCM tổ chức hàng năm. Khái niệm ý định Ý định hành vi được định nghĩa là khả năng nhận thức của một người hoặc "xác suất chủ quan mà người đó sẽ thực hiện một hành vi nhất định" (Ủy ban Truyền thông Thay đổi Hành vi trong Thế kỷ 21, 2002, trang 31). Theo Ajzen (1991, trang 181) lập luận rằng ý định hành vi là các yếu tố tạo động lực, thể hiện mức độ sẵn lòng và nỗ lực của mỗi cá nhân để thực hiện. Lý thuyết này chỉ ra rằng ý định hành vi là yếu tố quan trọng nhất để dự đoán hành vi tiêu dùng.
Ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ và chuẩn chủ quan. Như vậy, ý định lựa chọn học thêm chương trình thạc sĩ sau khi học đại học là xác suất chủ quan của một người cảm nhận về lợi ích/giá trị để từ đó có thể đưa ra quyết định họ có thể hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định đối với lợi ích/giá trị trong tương lai. Các lý thuyết liên quan 2. Ý định hành vi Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action-TRA) (Ajzen & Fishbein, 1975) là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong việc nghiên cứu về ý định hành vi, nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người.
Lý thuyết TRA hiệu quả trong việc giải thích các quy trình nhận thức để thấu hiểu việc ra quyết định theo ngữ cảnh của người tiêu dùng. Theo đó, ý định là ý muốn làm một việc gì đó. Theo Ajzen (2002), ý định hành vi là thước đo mức độ sẵn sàng thực hiện một hành vi cụ thể của một cá nhân. Ý định này được hình thành dựa trên sự suy xét của ba yếu tố chính: niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát.
Niềm tin vào hành vi là đánh giá của cá nhân về mức độ hữu ích và hiệu quả của hành vi đó trong việc đạt được mục 11 tiêu mong muốn. Niềm tin vào chuẩn mực phản ánh mức độ phù hợp của hành vi với các chuẩn mực xã hội và quan điểm của những người có ảnh hưởng. Niềm tin vào sự kiểm soát là đánh giá của cá nhân về khả năng thực hiện thành công hành vi đó. Theo Vietads (2016), học vị thạc sĩ trong tiếng Anh được gọi là Master.
Đây là một học vị trên bậc cử nhân, dưới bậc tiến sĩ.1: Mô hình Thuyết hành vi hợp lý (TRA) “Chuẩn chủ quan” là yếu tố ảnh hưởng xã hội (bắt nguồn từ các mối quan hệ gần gũi với những người có ý định thực hiện hành vi, như gia đình, bạn bè, giáo viên, đồng nghiệp, v.), quyết định liệu nên thực hiện hay không thực hiện một hành vi nào đó. 12 Ưu điểm: mô hình TRA là nó tương tự như mô hình thái độ ba thành phần, nhưng thay vì có 3 thành phần như mô hình thái độ ba thành phần, mô hình TRA kết hợp 3 thành phần khác nhau theo thứ tự: nhận thức, cảm xúc và xu hướng, mang lại một cách tiếp cận khác biệt. Phương pháp đo lường thái độ trong mô hình TRA cũng tương tự như mô hình thái độ đa thuộc tính. Tuy nhiên, mô hình TRA cung cấp giải thích chi tiết hơn bằng cách bổ sung thành phần tính chuẩn chủ quan.
Nhược điểm: Thuyết hành động hợp lý (TRA) có hạn chế trong việc dự đoán các hành vi của người tiêu dùng khi những hành vi đó không thể kiểm soát được, vì mô hình này không tính đến sự ảnh hưởng quan trọng của các yếu tố xã hội, mà trong thực tế có thể đóng vai trò quan trọng trong hành vi cá nhân (Grando & Peter P. Yếu tố xã hội đề cập đến tất cả các ảnh hưởng từ môi trường xung quanh cá nhân có thể ảnh hưởng đến hành vi của họ (Ajzen, 1991); chỉ có thái độ và chuẩn chủ quan không đủ để hoàn toàn giải thích hành vi của người tiêu dùng. Thuyết hành vi có hoạch định (TPB) Lý thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991), phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện nó. Các xu hướng hành vi bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991).
Xu hướng hành vi là một hàm của ba nhân tố: thái độ, ảnh hưởng xã hội (chuẩn chủ quan), và yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận được bổ sung vào mô hình TRA trong TPB (Theory of Planned Behavior), được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA.2: Mô hình Thuyết hành vi hoạch định (TPB) Ưu điểm: Nhờ có yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận, TPB được đánh giá là mô hình hiệu quả hơn TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi tiêu dùng. Điều này bởi vì mô hình TPB đã khắc phục được nhược điểm của mô hình TRA bằng cách thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi, bổ sung cho ảnh hưởng của thái độ và chuẩn mực chủ quan. Nhược điểm: mô hình TPB là có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi (Werner, 2004). Hạn chế đầu tiên là mô hình không hạn chế ý định quyết định bởi thái độ, chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991), trong khi có thể có những yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi.
Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu, chỉ có 40% sự biến động của hành vi có thể được giải thích bằng TPB (Ajzen, 1991; Werner, 2004). Hạn chế thứ hai là có thể có khoảng thời gian đáng kể giữa ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá (Werner, 2004). Trong khoảng thời gian đó, ý định của cá nhân có thể thay đổi. Hạn chế thứ ba là TPB là một mô hình tiên đoán dựa trên các tiêu chí nhất định, trong khi thực tế, cá nhân không luôn hành xử như dự đoán bởi những tiêu chí đó (Werner, 2004).
Tổng quan các nghiên cứu gần đây về ý định học Thạc sĩ của sinh viên 2. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Hồ Trúc Vy và Phan Trọng Nhân (2017) đã nghiên cứu thu thập dữ liệu của 500 mẫu trong đó 432 mẫu được cho là hợp lệ. Nghiên cứu này tham khảo và sử dụng thang đo ý định hành vi tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Ajzen (1991); Chaniotakis và ctg. (2010); de Matos và ctg.
(2007); Fournier (1988); Giner-Sorolla (1999); Oliver (1999); Taylor và Told (1995); và Zeithaml và ctg. Các thang đo này đã được kiểm định qua các nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều nơi với nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới. Ngoài ra, nhóm tác giả đã bổ sung yếu tố trung thành thương hiệu vào thang đo. Kết quả nghiên cứu cho thấy ý định hành vi theo học cao học tại Trường Đại học Công nghiệp TP.
Hồ Chí Minh của sinh viên Nhà trường có mối tương quan dương với bốn nhân tố: (ATTI) Thái độ dẫn đến hành vi, (NORM) Chuẩn chủ quan, (CONT) Nhận thức kiểm soát hành vi, và (LOYA) Trung thành thương hiệu Nghiên cứu của Đoàn Liêng Diễm & cộng sự (2020) thực hiện đề tài này cũng sử dụng lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) và thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả 5 giả thuyết được đưa ra trong mô hình nghiên cứu đều được chấp nhận. Điều này giúp xác định các yếu tố có vai trò quan trọng trong việc chi phối ý định học Cao học chuyên ngành Quản trị du lịch của sinh viên khoa Du lịch trường Đại học Tài chính - Marketing theo thứ tự ảnh hưởng: : (1) Thái độ đối với hành vi, (2) Nhận thức kiểm soát hành vi, (3) Trung thành thương hiệu, (4) Chuẩn chủ quan, (5) Nhu cầu xã hội có tác động trực tiếp đến ý định học Cao học.