Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Lauwere (2004) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi sang canh tác hữu cơ bằng phương pháp chuyên gia với mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action — TRA). Kết quả dựa trên hai mươi cuộc phỏng van sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực canh tác tông hợp hoặc hữu cơ.
Có thé phân biệt các loại động cơ khác nhau để chuyền đổi sang canh tác tổng hợp hoặc hữu cơ bao gồm (1) động cơ lý tưởng, liên quan đến động lực nội tại của nông dân, (2) động cơ kinh tế, liên quan đến khía cạnh tài chính của việc chuyền đổi, (3) động cơ kỹ thuật, liên quan đến các van đề như kiểm soát cỏ dai và nguồn lao động và (4) động cơ thể chế, liên quan đến các thể chế xung quanh nông dân. Kết quả cho thấy, động cơ kinh tế là lý do quan trọng nhất dé chuyền đổi và động cơ thể chế là lý do quan trọng nhất dé không chuyền đổi. Điều này cho thấy rang điều quan trọng là phải có sự tham gia của tat cả các bên liên quan khi xem xét chuyên đổi sang canh tác tong hợp hoặc hữu cơ (khuyến khích tài chính, cung cấp kiến thức, chính sách nhất quán hoặc cung cấp điều kiện thử nghiệm). Bosma và cs (2012) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc nông dân áp dụng hệ thống canh tác lúa - cá tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long bằng mô hình cầu trúc PLS-SEM và kiểm định Bootstrapping - kiểm định độ tin cậy mô hình PLS- SEM, Việt Nam.
Kết quả cho thấy thu nhập bình quân đầu người và trên ha của các hộ thực hiện hệ thống lúa - cá cao gần gấp đôi, trong khi quy mô trang trại của họ lớn hơn 1,3 lần so với trang trại độc canh lúa. Các hộ gia đình có diện tích lớn đễ dàng tiép cận nguon nước, khả năng tiép cận tot hơn với nguôn von tai chính có nhiêu khả năng áp dụng hệ thống lúa-cá hơn. Yếu tố trình độ giáo dục và đào tạo của nông dân cũng có anh hưởng đến việc áp dụng hệ thống canh tác lúa - cá tổng hợp. Kết quả nghiên cứu của Abro (2012) cho rằng cần chuyền đổi cây trồng từ cây trồng có giá trị thấp sang cây trồng có giá trị cao; từ sản xuất một vụ sang nhiều vụ và từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất có chế biến và gia tăng giá trị.
Bên cạnh việc phát trién công nghệ dé thúc đây đa dạng hóa cây trồng, đất nước phải quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển các công nghệ tạo điều kiện cho đa dạng hóa nông nghiệp, đặc biệt là hướng tới sản xuất thâm canh cây ăn quả, rau và các cây trồng có giá trị cao khác sẽ tăng thu nhập và tạo ra nhu cầu thực phẩm hiệu quả. Da dạng hóa các loại cây trồng có giá trị cao và thâm dụng lao động có thể mang lại thu nhập và việc làm đầy đủ cho nông dân. Thông qua việc khảo sát đối tượng là chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp; các yếu tố bao gồm việc phát triển cơ sở hạ tang, chiều dài các con đường và thu nhập bình quân đầu người có tác động tích cực và đáng ké đến đa dạng hóa cây trồng. Sự đa dạng hóa cây trồng theo hướng hàng hóa được tăng cường khi sử dụng phân bón, số lượng giếng nước tăng lên.
Lượng mưa cũng đáng ké với dấu hiệu tiêu cực, cho thấy việc đa dạng hóa cây trồng bị hạn chế ở những vùng có lượng mưa lớn hơn. Nông dân ở những vùng này vốn dĩ ưa thích trồng lúa, và chỉ ở những vùng có lượng mưa vừa và thấp, nông dân mới muốn đa dạng hóa đề tăng thu nhập và giảm thiểu rủi ro. Theo Kiru Sichoongwe và cs (2014), nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Zambia và là trụ cột chính cho sinh kế của một bộ phận lớn dân số. Khoảng 18% sản lượng ngô quốc gia đến từ tỉnh miền Nam của Zambia.
Dé cải thiện an ninh lương thực và giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc phụ thuộc nhiều vào ngô, chính phủ Zambia đã va đang thúc day da dạng hóa cây trồng. Nghiên cứu nay đã phân tích các yếu tổ quyết định đến đa dang hoá cây trồng cũng như các nhân tô ảnh hưởng đến mức độ da dang hoá cây trồng của nông hộ nhỏ ở các tinh phía Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Văn phòng Thống kê Trung ương Zambia. Kết quả phân tích chỉ ra rằng quy mô đất đai, số lượng phân bón, khoảng cách đến thị trường và loại cơ chế làm đất được áp dụng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc người nông dân có thực hành đa dạng hóa cây trồng hay không.
Từ đó, tác giả đề xuất chính phủ cần xem xét thực hiện các chính sách sẽ tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát đất đai của nông dân, giúp nông dân có khả năng tiếp cận tốt hơn với các dụng cụ nông nghiệp như máy cày, và điều đó sẽ đưa thị trường buôn bán đến gần hơn với nông dân. Dube (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chuyền đổi cây trồng của 479 nông hộ nhỏ ở các tỉnh Manicaland và Masvingo cua Zimbabwe. Mô hình Tobit chỉ ra rằng giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn, số đơn vị chăn nuôi, khả năng tiếp cận với hệ thống tưới tiêu, thành viên nhóm nông dân, tiếp cận thị trường, kinh nghiệm canh tác, trang trại trên địa hình bằng phẳng, khuyến nông và thu nhập của hộ gia đình là những yếu t6 góp phan đáng kể vào việc da dạng hóa cây trồng. Bên cạnh đó, chuyên môn hóa cây trồng có liên quan đáng kể đến việc làm phi nông nghiệp, độ phì nhiêu của đất, sự hài lòng của nông dân với công tác khuyến nông hàng năm, đào tạo sử dụng phương pháp tiếp cận trường và nhận hỗ trợ khuyến nông của tổ chức phi chính phủ.
Theo Dembele và cs (2018), các nông dân sản xuất nhỏ ở Châu Phi cận Sahara (SSA) tìm cách cải thiện sinh kế của họ thông qua đa dạng hóa cây trồng, hệ thống chăn nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp. Nghiên cứu được thực hiện tại các vùng trồng bông ở Mali, nơi tạo thành vùng sản xuất nông nghiệp chính ở Mali. Kết quả phân tích từ thông tin khảo sát 134 nông hộ nhỏ được lựa chọn ngẫu nhiên ở ba ngôi làng được chọn từ các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau ở Nam Mali bằng mô hình hồi quy đa thức (MRM — multinomial regression models) cho thấy tuổi của chủ gia đình, trình độ học vấn, quy mô gia đình, sở hữu bò, thu nhập bình quân đầu người của trang trại và dịch hại cây trồng ảnh hưởng đáng kê đến sự tham gia của các gia đình trong bốn chiến lược đa dạng hóa. Từ đó các biện pháp can thiệp chính sách nên được sử dụng đề khuyến khích và thúc đây các hoạt động hướng tới lợi nhuận thông qua các chiến lược đa dạng hóa.
Mekuria va cs (2018) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định sự chuyền đổi cây trồng - vật nuôi ở Ethiopia. Kết quả cho thấy rằng diện tích đất canh tác lớn hơn, khả năng tưới tiêu, gia súc lớn hơn và dịch vụ khuyến nông hiệu quả là những yếu tố quyết định để đa dạng hóa cây trồng - vật nuôi. Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa cây trồng và vật nuôi góp phần vào sinh kế, an ninh lương thực hộ gia đình và bảo tồn đa dạng sinh học. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng các chính sách nông nghiệp cần đảm bảo đa dạng hóa cây trồng - vật nuôi cũng như đây là một phương tiện sinh kế.
Từ đó, tác giả khuyến nghị có những nghiên cứu sâu hơn về đa dạng hóa cây trồng - vật nuôi dé tìm ra các mô hình đa dạng tốt nhất dé các hộ gia đình có thể đảm bao an ninh lương thực và thu nhập. Bansal (2020) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và các hạn chế khác nhau về công nghệ và kinh tế xã hội đối với đa dạng hóa cây trồng được thực hiện tại huyện Rewari và Sonepat của Haryana. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 25 nông dân được chọn ngẫu nhiên, mỗi người từ các làng được chọn ngẫu nhiên. Đề tài sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội bội để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa cây trồng.
Kết quả cho thấy, tuổi tác, trình độ học vấn và diện tích đất ảnh hưởng tích cực, trong khi thu nhập ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng hóa cây trồng. Các nghiên cứu trong nước Mai Văn Thành, Trần Nam Anh và cộng sự (2004) với bài nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến người dân trong việc ra quyết định áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”. Nghiên cứu đã sử dụng trọng số trung bình (WAI) phương pháp phân tích nhân tố và hàm hồi qui logit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp của người dân. Kết quả cho thấy khi phân tích nhân tố ảnh hưởng dựa trên nhận thức về mức độ quan trọng thì nhóm nhân tố kinh tế (tăng thu nhập, vốn, sản phẩm da dạng.) có ảnh hưởng mạnh nhất sau đó là nhóm nhân tổ xã hội (thi trường, dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ đầu vào, an toàn lương thực, nông hộ đi trước đạt được thành công, quyền sở hữu đất.) và cuối cùng là nhóm nhân tố lý sinh (chất lượng đất, nguồn nước, sâu bệnh.
Khi phân tích nhân tố ảnh hưởng dựa trên nhận thức về mức độ ảnh hưởng thì giống mới, tăng thu nhập, thị trường, an toàn lương thực và nông hộ thành công là các nhân t6 ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định áp dụng mô hình nông lâm kết hợp của nông hộ. Tuy nhiên các nhân tố chính trong 19 nhân tổ thuộc 3 nhóm nhân tổ lớn có ảnh hưởng đến quết định của nông hộ là an toàn lương thực, dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ đầu vào, tô chức địa phương và quyền sở hữu đất. Theo Nguyễn Văn Hang (2009), tuổi của người sản xuất chính có vai trò rất quan trong trong việc sản xuất nông nghiệp.