CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Dịch vụ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại NHTM 1. Khái quát khái niệm Ngân hàng Thương mại Tại các quốc gia, quan niệm về Ngân hàng Thương mại có sự không đồng nhất nhưng nhìn chung bản chất, chức năng và các hoạt động nghiệp vụ gần như là giống nhau. Tại các quốc gia châu Mỹ Latinh, đại diện là Mỹ, Luật về hoạt động ngân hàng Mỹ (1933) định nghĩa NHTM là: “Công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Tại các quốc gia châu Âu, đại diện là Pháp, đạo luật Ngân hàng Pháp (1941) định nghĩa: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 3 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, quy định về định nghĩa Ngân hàng Thương mại có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2010 là tổ chức: “NHTM là các loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Tại bài khóa luận này, tác giả có thể kết luận dựa trên định nghĩa của Luật tổ chức tín dụng rằng NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận thông qua hoạt động cung cấp các dịch vụ chính là huy động vốn, cho vay kinh doanh hay môi giới trung gian. Trên cơ sở sản xuất lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển thì NHTM trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân.
Khái quát khái niệm dịch vụ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại NHTM Một trong những hoạt động quan trọng nhất tại NHTM chính là huy động vốn. Bởi lẽ, đối với các NHTM thì vốn chính là yếu tố cần thiết để thực hiện nghiệp vụ vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ thiết yếu khác của Ngân hàng tới các cơ sở kinh doanh của NHTM đồng thời đảm bảo thanh khoản, nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng 10 được nhu cầu của khách hàng. Một trong những nghiệp vụ huy động được nguồn vốn ổn định tại các Ngân hàng không thể không nhắc tới chính là huy động tiền gửi. Trong NHTM thì nguồn huy động tiền gửi được phân ra làm hai loại: Tiền gửi từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội và tiến gửi tiết kiệm của dân cư.
Đối với tiền gửi tiết kiệm từ dân cư hay tiền gửi tiết kiệm của KHCN, trên thế giới, theo Banca d'Italia (2019) định nghĩa tiền gửi tiết kiệm là một công cụ tiết kiệm và các hoạt động duy nhất có sẵn là tích trữ hoặc rút tiền. Khi sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm, khách hàng có thể nhận được một khoản tiền lãi sau khi kết thúc kỳ gửi tiền nhất định (từ 1 tới 36 tháng). Một định nghĩa khác của Kagan (2023) xem xét tiền gửi tiết kiệm dựa trên một tài khoản tiền gửi có lãi được giữ tại Ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác. Lãi suất của tiền gửi tiết kiệm được coi là khiêm tốn nhưng chúng là một lựa chọn an toàn để giữ tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn.
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 1,3 Điều 5 Thông tư số 48/2018/TT- NHNN, quy định về tiền gửi tiết kiệm hiệu lực từ ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng. Giao dịch tiền gửi tiết kiệm bao gồm giao dịch nhận, gửi tiền gửi tiết kiệm; chi trả, rút tiền gửi tiết kiệm; sử dụng tiền gửi tiết kiệm làm tài sản bảo đảm và chuyển giao quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Tại bài khóa luận này, tác giả có thể kết hợp định nghĩa của Banca d'Italia (2019) và theo định nghĩa tiền gửi tiết kiệm tại Thông tư số 48/2018/TT-NHNN là tiền gửi tiết kiệm của KHCN chính là khoản tiền nhàn rỗi được người dân gửi tại Ngân hàng, tổ chức tài chính nhằm mục đích hưởng lãi định kỳ theo mức lãi suất mà NH đưa ra. Thêm vào đó, nhằm thu hút càng nhiều vốn huy động, các ngân hàng đưa ra nhiều hình thức huy động khác nhau bao gồm: Tiền gửi thanh toán; Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và Tiền gửi tiết kiệm.
Trong đó, việc huy động vốn tiền gửi tiết kiệm đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định nguồn vốn tại Ngân hàng. Bản chất đây là kênh đầu tư vì mục tiêu an toàn và sinh lời cho các tầng lớp dân cư. Các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động với các hình thức 11 huy động đa dạng cùng lãi suất cạnh tranh. Bên cạnh đó, theo Nguyễn Thị Thảo (2013), khi sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm, khách hàng có thể dùng sổ tiết kiệm để thế chấp vay vốn khi cần.
Phân loại các loại hình dịch vụ tiền gửi tiết kiệm Mang tính ổn định và an toàn cao, các Ngân hàng thường đưa ra các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm rất phong phú và đa dạng, linh hoạt theo nhu cầu và mục đích của khách hàng khi gửi tiền tiết kiệm. Dựa trên khái niệm trong Giáo trình tiền tệ Ngân hàng (2019) và khái niệm trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiến (2012), bài nghiên cứu sẽ đưa ra kết luận về khái niệm các loại hình dịch vụ tiền gửi tiết kiệm như sau: a. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Theo Giáo trình Tiền tệ Ngân hàng (2019), bản chất của loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khách hàng có thể gửi tiền và rút ra bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho ngân hàng. Đối tượng khách hàng mục tiêu là tập khách hàng có lượng tiền nhàn rỗi và muốn gửi vào ngân hàng với mục tiêu an toàn và tiện lợi (Nguyễn Văn Tiến, 2012).
Lãi suất của loại hình này rất thấp, thường dưới 1%/năm, chính vì vậy đây không phải là kênh đầu tư đem lại lợi nhuận. Ngoài ra, nhiệm vụ chính của loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn chính là nhờ NH giữ hộ tài sản và giao dịch không sử dụng tiền mặt nhanh chóng nên khách hàng thường sẽ phải trả một mức phí duy trì tài khoản cố định cho NH hoặc ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất rất thấp cho loại tài sản này. Tuy nhiên, hiện nay ngày càng nhiều các NH đã bỏ phí duy trì tài khoản nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ tại NH mình. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Đây là loại tiền gửi có sự cam kết giữa khách hàng và tổ chức tín dụng, ngân hàng có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định, tùy vào sự cam kết trước đó (Nguyễn Văn Tiến, 2012).
Bản chất của loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn này là khách hàng không được rút tiền trước hạn, nếu rút tiền trước hạn sẽ không được tính lãi suất có kỳ hạn mà chuyển sang lãi không kỳ hạn. Mục đích của khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền qua kênh này là thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai, an toàn và có khả năng sinh lợi tốt (Nguyễn Thị Thu Hà, 2022). Theo Giáo trình Tiền tệ Ngân hàng (2019) “các NH sử dụng hai cách là áp dụng tiền gửi tiết kiệm có kỳ 12 hạn thông thường (người gửi chỉ được hưởng lãi hoặc trong từng thời kỳ) và có thể áp dụng tiền gửi tiết kiệm có thưởng kèm theo lãi” để khuyến khích KHCN gửi tiết kiệm vào Ngân hàng. Thông thường, các Ngân hàng sẽ đưa ra biểu lãi khác nhau tùy thuộc vào kỳ thời gian mà khách hàng gửi tiền tiết kiệm, thời gian càng dài thì lãi suất càng cao.
Vì có thể thu được lợi tức có được theo định kỳ, do đó lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đối tượng khách hàng tham gia hình thức gửi tiền tiết kiệm này. Ngoài ra, mức lãi suất sẽ thay đổi tùy theo kỳ hạn, theo từng thời kỳ và theo từng loại tiền gửi (VNĐ,USD,EUR). Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể chia ra làm 2 loại: + Theo thời hạn: Kỳ hạn 1 tháng; Kỳ hạn 3-5 tháng; Kỳ hạn 6-12 tháng; Kỳ hạn trên 12 tháng. + Theo phương thức trả lãi: Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ; Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ; Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ (tháng hoặc quý).
Gửi tiết kiệm có kỳ hạn linh hoạt Bản chất của kênh tiền gửi tiết kiệm này giống với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tuy nhiên, đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn linh hoạt đã khắc phục được hạn chế nếu rút tiền trước hạn sẽ không được tính lãi suất ưu đãi của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Với hình thức này, khách hàng hoàn toàn có thể rút vốn linh hoạt mọi lúc mọi nơi và số tiền gửi còn lại vẫn được tính lãi suất có kỳ hạn như thường. Gửi tiết kiệm tích lũy Đây là loại hình gửi tiết kiệm mới phổ biến gần đây tại ngân hàng.
Nguồn gốc của loại hình tiết kiệm này chính là từ hoạt động tích tiểu thành đại của ông cha ta ngày xưa. Với hình thức này, khách hàng sẽ trích một khoản tiền nhỏ trong thu nhập của mình hằng tháng và hưởng mức lãi suất có kỳ hạn với biểu lãi theo quy định của từng ngân hàng. Khi gửi tiết kiệm tích lũy, khách hàng có thể chọn cách thức gửi tiền là tự mình gửi góp hằng tháng hoặc ngân hàng sẽ tự động trích số dư tiền trong tài khoản thanh toán của khách hàng vào tài khoản tiết kiệm tích lũy. Khi bắt đầu tham gia vào hình thức gửi này, khách hàng sẽ được thống nhất với Ngân hàng về kỳ hạn và số tiền góp định kỳ tùy theo nhu cầu và nền tảng tài chính của khách.
Vai trò dịch vụ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại a.