CHƯƠNG 1: TONG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CUU VE CÁC NHÂN TO TÁC DONG DEN NANG LỰC CẠNH TRANH CUA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Dé có cái nhìn tông thé về van đề nghiên cứu, Chương này sẽ trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan theo 04 nhóm vấn đề gồm: (1) Các nghiên cứu về cạnh tranh trong GDĐH trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; (2) Các nghiên cứu về cạnh tranh trong GDĐH dưới góc độ xếp hạng đại học; (3) Các nghiên cứu về NLCT của các cơ sở GDĐH; (4) Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến NLCT của các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam. Trên cơ sở tông quan tài liệu, Chương | cũng sẽ chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và các van dé luận án kế thừa, hoàn thiện, bổ sung. Tổng quan các công trình nghiên cứu về cạnh tranh trong giáo dục đại học 1. Các nghiên cứu về cạnh tranh trong GDĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Về mặt truyền thống, trong lĩnh vực GDĐH trước đây không có quá nhiều cạnh tranh.
GDĐH được xem là hàng hóa công (Marginson, 2011). Các trường đại học công lập trên toàn thế giới nhận ngân sách của nhà nước đề vận hành toàn bộ hoạt động của nhà trường (Johnson, 1984). Các trường đại học tư thục mặc dù có thu học phí của sinh viên nhưng việc tuyên sinh không phải là van đề lớn do nguồn tuyén sinh luôn đồi dào, bên cạnh đó là sự hỗ trợ của nhà nước cũng không hề nhỏ. Mặc dù vậy, trong khoảng vài chục năm trở lại đây, một xu hướng chung diễn ra với GDĐH trên toàn thế giới, đó là xu hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDDH (Giannakis & Bullivant, 2016; Judson & Taylor, 2014).
Với những thuộc tính kế trên, các cơ sở GDDH công lập trên toàn thế giới ngày càng có xu hướng chuyền dịch từ một đơn vị công, thực hiện theo chức năng định sẵn của nhà nước sang một đơn vị dịch vụ, tham gia vào thị trường dịch vụ GDDH, cạnh tranh quyết liệt với nhau để tìm kiếm các nguồn thu khác nhau như: nguồn thu từ sinh viên trong và ngoài nước, nguồn thu từ các chương trình, đề án của chính phủ, nguồn thu từ thị trường, xã hội, cộng đồng. Từ phía nhà nước, một xu hướng chung cũng diễn ra đồng thời với xu hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH là việc nhà nước ngày càng trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các cơ sở GDĐH công lập, dé các cơ sở GDĐH công lập thực sự tự chủ và chủ động cạnh tranh lẫn nhau trong thị trường. Sự thay đổi và vận động của GDĐH Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt từ sau Nghị quyết 14/2005/NQ-CP năm 2005 về đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống GDĐH (Chính phủ, 2005) cũng có nhiều thay đổi theo hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa, và cạnh tranh. Mặc dù vậy, cần lưu ý là trên các văn bản chính thức của Việt Nam, chưa có tài liệu nào nói rằng GDĐH Việt Nam đang vận hành theo hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa, hay cạnh tranh.
Tuy vậy, xu hướng tăng cường tự chủ cho các cơ sở GDĐH, theo tinh than của Nghị quyết 77 (Chính phủ, 2014), cũng như Luật GDĐH 2012 và Luật GDĐH sửa đổi 2018 (Quốc hội, 2018), xu hướng xã hội hóa GDĐH (Phạm Hiệp & Vũ Huyền, 2019) trong những năm qua có thé nói cũng có rất nhiều thuộc tính tương tự như xu hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa và cạnh tranh như đã trình bày ở trên. Cùng với toàn cầu hóa, sự phát trién và biến đổi không ngừng của nền kinh tế tri thức toàn cầu đã thúc đây cho sự tái định hình lại GDĐH. Varghese (2014) cho rằng, GDĐH đã và đang trải qua sự phát triển vượt bậc. Nghiên cứu này lập luận rằng GDDH trong bối cảnh toàn cầu hóa đã trở thành một quá trình do thị trường quyết định, thay thế cho sự độc quyền gần như được hưởng của nhà nước và cho rằng rời bỏ lĩnh vực giáo dục sang thị trường có thé không phải là một lựa chọn tốt.
Theo đó, nhà nước cần có trách nhiệm đảm bảo chất lượng và sự cân bằng trong cơ cấu giáo dục. Ở một nghiên cứu khác, Rust và Kim (2012) chỉ ra rằng khi toàn cầu hóa trở thành tâm điểm của GDĐH, cạnh tranh đã trở thành mối bận tâm trọng điểm. Cạnh tranh gắn liền với nền kinh tế thị trường tự do toàn cầu. Kết hợp với tác động của toàn cầu hóa và sự phát triển của “nền kinh tế tri thức” toàn cầu, các lực lượng cạnh tranh này đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh toàn cầu hiện đang định hình lại GDĐH.
Nghiên cứu chỉ ra nhiều đặc trưng cho sự phát triển tính cạnh canh toàn cầu trong GDĐH như: xếp hạng ĐH toàn cầu, xu hướng xác lập trường đại học đăng cấp thế giới của các quốc gia, đánh giá chất lượng giáo dục xuyên biên giới và quốc tế hóa các trường đại học. Adcroff và cộng sự (2010) khi nghiên cứu về cạnh tranh trong GDDH tại Anh đã tìm hiểu sự ảnh hưởng của những thay đổi gần đây trong lĩnh vực GDĐH của 10 Vương quốc Anh lên việc tăng mức độ cạnh tranh và thay đổi hành vi của các cơ sở GDDH ở đây. Kết luận chi ra rang có khả năng sự cạnh tranh giữa các cơ sở GDDH của Vương quốc Anh sẽ tăng trong tương lai, đặc biệt là khi áp dụng học phí cho sinh viên, điều này sẽ làm cho các vấn đề như quản lý, đo lường hiệu quả hoạt động, toàn cầu hóa, sáp nhập, mua lại và quan hệ đối tác trở nên phô biến hơn bao giờ hết trong lĩnh vực này. Trong một góc nhìn khác, Guerrero và Urbano (2010) đưa ra quan điểm rằng trường đại học nên phát triển một số chiến lược tăng cường chất lượng đảo tạo theo hướng dau ra thị trường, cụ thé, các phương pháp GD&DT sẽ có chất lượng tốt hơn nếu dựa trên sự phát triển cá nhân hỗ trợ sự sáng tạo và kinh nghiệm kinh doanh.
Ngoài ra, sự cần thiết của các thỏa thuận hợp tác giữa trường đại học và ngành công nghiệp. Cụ thé, doanh nghiệp vừa và nhỏ đòi hỏi những cơ chế đó dé tồn tại trong môi trường cạnh tranh bởi vì trong nền kinh tế mới, lợi thế chiến lược chính của họ là tri thức và vốn con người. Trường đại học tạo ra các ý tưởng và nguồn nhân lực đủ tiêu chuẩn trong khi ngành công nghiệp có các nguồn lực kinh tế dé biến các ý tưởng thành các sản pham hữu ích về kinh tế. Day là mối quan hệ cộng tác hai bên cùng có lợi.
Singh (2011) lại cho rằng sự xuất hiện của toàn cầu hóa đang khiến nhiệm vụ của các nhà giáo dục trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Internet và mạng xã hội tạo điều kiện cho sinh viên từ mọi ngóc ngách trên thế giới vượt ra khỏi biên giới xã hội và chính trị của họ dé có được nền GDĐH chất lượng. Không chỉ vậy, họ dường như được thúc đây mạnh mẽ trong việc lựa chọn một nền GDĐH chất lượng, họ tin rằng chỉ có GDĐH chất lượng cao mới có thể chuẩn bị cho họ đủ những điều kiện cần thiết để đối phó với nhịp độ của thế giới, trở thành lực lượng lao động và công dân cạnh tranh toàn cầu. Điều này tạo ra thử thách rất lớn trong việc thúc đây năng lực lãnh đạo của các nhà lãnh đạo giáo dục để họ có thể đương đầu với những thách thức của thế giới học thuật mới.
Các cơ sở GDĐH cần thể hiện rõ thái độ của mình và chuẩn bị cho những thách thức mới của thế kỷ 21: phát triển sự hợp tác và liên kết, thiết lập mạng lưới và quan hệ đối tác, tổ chức các chương trình trao đổi giảng viên, và quan trọng hơn là thúc đây và nhận học bồng đa chiều dé tạo ra các nhà lãnh đạo giáo dục 11 có năng lực toàn cầu. Astratova va cộng sự (2021) đã trình bay một nghiên cứu về phân tích các xu hướng mới, sự cạnh tranh và thay đổi cấu trúc trong GDĐH trong bối cảnh số hóa. Bài viết chỉ ra rằng cho đến năm 2020, các xu hướng mới trên thị trường dịch vụ GDĐH đã xuất hiện và thé hiện đầy đủ, do ba yếu tổ chính: 1) cạnh tranh toàn cầu gia tăng; 2) việc giới thiệu tích cực các công nghệ kỹ thuật số trong GDĐH; 3) tác động của đại dịch COVID toàn cầu đối với công nghệ giáo dục. Đại dịch Covid-19 đã tạo cú thúc mạnh mẽ trong việc chuyền đôi số GDĐH.
Nhờ số hóa, cau trúc của thị trường giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng đã thay đổi, cơ cau hiện nay bao gồm cả các tổ chức công và tư, các bộ giáo dục và cơ quan chính phủ, các công ty giáo dục, tư vấn và kiểm tra (đánh gia). Không chỉ vậy, sự cạnh tranh toàn cầu của các trường đại học về chất lượng ngày càng được tô chức chặt chẽ và được trang bị kỹ thuật hơn dựa vào các phương pháp đánh giá chất lượng phi cá nhân bằng cách sử dụng các công nghệ kỹ thuật số. Bên cạnh đó, các tác giả cũng rút ra một số kết luận về hậu quả tiêu cực của hình thức đảo tạo từ xa. Nó chỉ ra rằng khả năng cạnh tranh và khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục cho các loại công dân là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện và môi trường sống khác nhau, được đảm bảo thông qua sự tương tác của tất cả những người tham gia vào quá trình giáo dục, hoạt động của các nhà khoa học và các nhà thực hành xung quanh thế giới, và Sự hỗ trợ của nhà nước đối với các sáng kiến giảng dạy ở tất cả các vùng của đất nước.
Trong một nghiên cứu về cạnh tranh trong GDĐH ở Hungary, TamándI và Nagy (2013) cho rằng, cạnh tranh là một yếu tổ tất yếu xuất hiện trong thị trường GDDH. Sự thay đổi của nền kinh tế và xã hội, cụ thé là hiện tượng toàn cầu hóa đã tác động đến phân khúc GDĐH và dẫn đến sự biến đồi của nó. Các hoạt động được lên kế hoạch, hiện đại hóa việc kiểm soát và hệ thống quản lý của các tổ chức cùng với sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp ích rất lớn trong việc giới thiệu các dịch vụ tích hợp, hiện đại. Việc chiếm ưu thế trong tìm kiếm đối tác đầu ra cũng là một trong những mau chốt đem lại NLCT của GDĐH.