CHƯƠNG 1 Tiếp cận góc độ tài chính, chương này đã chỉ ra tầm quan trọng và vai trò của tiền gửi của khách hàng đối với các Ngân hàng thương mại, đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến quy mô hoạt động, quy mô tín dụng, khả năng thanh toán và góp phần gia tăng lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại cổ phần; bên cạnh đó đề tài cũng đã chỉ ra được sự cần thiết và tính tất yếu cũng như tính cấp thiết trong việc nghiên cứu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần từ các bằng chứng thực nghiệm là các nghiên cứu trước của nhiều tác giả khác nhau và thực tiễn các Ngân hàng thương mại cổ phầntại Việt Nam, đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu được lựa chọn. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua 4 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian; theo đó đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu 23 Ngân hàng thương mại cổ phầntrong giai đoạn 10 năm, kể từ năm 2009 đến năm 2018. Sau khi đề tài đã khẳng định ý nghĩa, đóng góp về việc cung cấp thông tin hữu ích cho các chủ thể khác nhau, chẳng hạn như đối với nhà quản trị Ngân hàng thương mạihay đối với nhà đầu tư,.
Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc của đề tài với 5 chương nội dung chính. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại 2. Một số vấn đề cơ bản về tiền gửi của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Tiền gửi hay còn gọi là nguồn vốn huy động (deposit) nó là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to lớn và quan trọng nhất của ngân hàng.
Hoạt động nhận tiền gửi của các Ngân hàng thương mại là hoạt động quan trọng và chủ yếu giúp các Ngân hàng thương mại tạo lập được nguồn vốn và đáp ứng nhu cầu vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn có được từ hoạt động nhận tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn nên nó đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2010) nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Qua khái niệm này cho thấy rằng hoạt động huy động vốn khá đa dạng, đa dạng về đối tượng khách hàng và đa dạng về hình thức huy động.
Song song đó các Ngân hàng thương mại phải đảm bảo hoàn trả đầy đủ cho người gửi tiền không những cả gốc mà còn có lãi. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng thương mại Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú, tùy vào trường hợp cụ thể về không gian và thời gian nghiên cứu; theo đó đề tài tiếp cận và phân tích nhóm yếu tố thuộc về phía ngân hàng bao gồm các yếu tố vi mô thuộc về ngân hàng như: quy mô ngân hàng, khả năng sinh lời của ngân hàng, vốn chủ sở hữu, lãi suất tiền gửi và nợ xấu. Quy mô ngân hàng (SIZE) Theo lý thuyết về quy mô kinh tế (economies of scale), những Ngân hàng thương mại có quy mô lớn sẽ có chi phí thấp hơn, đây cũng là yếu tố quyết định giúp các Ngân hàng thương mại có quy mô lớn sẽ dễ dàng cải thiện lợi nhuận hơn các Ngân hàng thương mại nhỏ, vì vậy quy mô Ngân hàng thương mại càng lớn thì các Ngân hàng thương mại có thể huy động được lượng tiền gửi của khách hàng nhiều hơn; điều này cũng phù hợp với theo lý thuyết trật tự phân hạng (1961, 1984), quy mô Ngân hàng thương mại có ý nghĩa giải thích cho tình trạng bất cân xứng thông tin và Ngân hàng thương mại sẽ có những quyết định tài chính khác nhau nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận; lý thuyết đại diện (1976) cũng khẳng định quy mô Ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến vấn đề sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận; các lý thuyết này đều gợi ý rằng có quan hệ cùng chiều của quy mô Ngân hàng thương mại với lượng tiền gửi của khách hàng. Theo Kaufman (1972), Herald & Heiko (2008), Doliente (2005), Shemsu Bargicho Ademv (2015) quy mô ngân hàng có ảnh hưởng đến tiền gửi.
Các ngân hàng nhỏ hơn sẽ tạo ra ít tiền gửi hơn và có mức tăng trưởng tiền gửi thấp so với các ngân hàng lớn. Một ngân hàng lớn hơn với quy mô kinh tế cũng như mạng lưới chi nhánh lớn hơn có thể thu hút tiền gửi tốt hơn Herald & Heiko (2008). Điều này được giải thích dựa trên sự đa dạng hóa theo quy mô, tức các ngân hàng có quy mô càng lớn, đa dạng hóa về khách hàng, mở rộng được chi nhánh ngân hàng thì sẽ tăng trưởng tiền gửi của khách hàng và tăng khối lượng giao dịch về tiền gửi. Tại Việt Nam, điều này dễ dàng nhìn thấy, khi những ngân hàng có quy mô lớn, có hệ thống chi nhánh ngân hàng được mở rộng, sản phẩm tiền gửi đa dạng, sẽ có nhiều lợi thế trong huy động vốn với chi phí đầu vào thấp khi đó lợi nhuận ngân hàng sẽ tăng.
Ngược lại, lý thuyết quá lớn để sụp đổ (too big too fail theory) hay lý thuyết bất lợi vì quy mô lại hàm ý rằng quy mô càng lớn thì Ngân hàng thương mại có thể thất bại, lợi nhuận có thể suy giảm; và điều này gợi ý rằng các Ngân hàng thương mại có quy mô lớn hơn thì có thể huy động lượng tiền gửi của khách hàng ít hơn. Khả năng sinh lời của ngân hàng (PROF) Theo Erna & Ekki (2004), thấy rằng mối quan giữa tiền gửi của khách hàng và lợi nhuận của các ngân hàng. Lợi nhuận ngân hàng cao hơn sẽ có xu hướng báo hiệu ngân hàng đang tăng trưởng tốt, có thể giúp các ngân hàng này dễ dàng thu hút lượng tiền gửi của khách hàng hơn Herald & Heiko (2008). Tuy nhiên, tác động của lợi nhuận ngân hàng được cho là không đáng kể một khi kiểm soát các yếu tố khác.
Vì vậy, tác động của lợi nhuận ngân hàng đối lượng tiền gửi của khách hàng thương mại thấp hơn so với các yếu tố khác. Vốn chủ sở hữu (CAP) Vốn chủ sở hữu được hình thành từ vốn góp ban đầu bởi chủ sở hữu và được bổ sung trong quá trình hoạt động từ lợi nhuận giữ lại hoặc các chủ sở hữu tiếp tục bổ sung thêm vốn góp. Theo lý thuyết về quản trị tài chính, vốn chủ sở hữu được xem là nguồn vốn ổn định và không có cam kết hoàn trả nên vốn chủ sở hữu chính là nền tảng cho sự phát triển các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại; mặc dù vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nên vốn chủ sở hữu là cơ sở nền tảng để hình thành nên các nguồn vốn khác cho Ngân hàng thương mại và đồng thời tạo nên uy tín ban đầu, duy trì niềm tin của khách hàng vào Ngân hàng thương mại; hay vốn chủ sở hữu có ý nghĩa quyết định khả năng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, không những thế mà vốn chủ sở hữu còn là cơ sở đảm bảo cho an toàn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Như vậy, vốn chủ sở hữu là một trong những nền tảng, có ảnh hưởng đến quyết định thực hiện chính sách huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại.
Vốn chủ sở hữu gia tăng là cơ sở nền tảng để Ngân hàng thương mại có thể lựa chọn thực hiện mở rộng chính sách huy động vốn tiền gửi, từ đó là gia tăng nền tảng thực hiện các nghiệp vụ sử dụng vốn tạo lợi nhuận cho các Ngân hàng thương mại. Lãi suất tiền gửi (RATE) Lãi suất trong hệ thống ngân hàng được coi là chi phí đầu tư theo quan điểm của nhà đầu tư và chi phí cơ hội theo quan điểm của người gửi tiền (Mohammad & Mahdi, 2010). Tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng thương mại nhạy cảm 12 với lãi suất, do đó lãi suất tiền gửi thay đổi thì tiền gửi của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại sẽ thay đổi.Có những quan điểm khác nhau về sự ảnh hưởng của lãi suất tiền gửi đến tiền gửi của khách hàng. Một mặt, theo Philip (1968) nói rằng việc đưa ra mức lãi suất hấp dẫn đối với tiền gửi của khách hàng có thể được coi là có tác dụng có lợi, Rose (2001), cho rằng các ngân hàng tăng tiền gửi của họ bằng cách đưa ra lãi suất tiền gửi cao hơn.
Mặt khác (Mustafa & Sayera, 2009) cho rằng lãi suất tiền gửi thấp đang không khuyến khích huy động tiết kiệm, một nghiên cứu của Shemsu Bargicho Adem (2015) về Ngân hàng thương mại Ethiopia cho rằng kết quả của việc gia tăng tiền gửi không bị ảnh hưởng bời sự thay đổi lãi suất tiền gửi. Nợ xấu (NPL) Theo lý thuyết chức năng trung gian tài chính của Ngân hàng thương mại, nguồn tiền chủ yếu đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn để cho vay cũng như các nghiệp vụ tài sản có sinh lời khác là tiền gửi của khách hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ trở nên suôn sẻ khi khách hàng vay vốn hoàn trả đầy đủ số tiền đã vay theo đúng thỏa thuận với Ngân hàng thương mại.