CHƯƠNG 1 Tiếp cận góc độ lý thuyết, chương này đã chỉ ra tính tất yếu phải duy trì và gia tăng thanh khoản cho các NHTM trong quá trình hoạt động; căn cứ lược thảo các nghiên cứu thực nghiệm và bằng chứng thực tiễn thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam, đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa các mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung là các yếu tố vi mô thuộc về NHTM và các yếu tố vĩ mô, thời gian 11 năm kể từ năm 2011 đến năm 2021 và không gian 30 NHTM tại Việt Nam. Sau khi khẳng định ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của đề tài, cuối cùng chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung chính.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết về khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Khả năng thanh khoản Theo Yeager và Seitz (1989) “Khả năng thanh khoản là khả năng đáp ứng mọi nhu cầu chính đáng về vốn như là nhu cầu rút tiền gửi của người gửi tiền hoặc giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết với mức chi phí hợp lý. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán một cách đầy đủ thì ngân hàng đó được xem là thiếu khả năng thanh khoản”.
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (2008) định nghĩa “khả năng thanh khoản được định nghĩa là khả năng mà ngân hàng để có được nguồn tiền cần thiết để đáp ứng các nghĩa vụ khi đến hạn mà không phải chịu bất kỳ tổn thất đáng kể”. Duttweiler (2010) cho rằng “Khả năng thanh khoản là thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn…” Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì “khả năng thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phi hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh”. “Một nguồn vốn được gọi là có khả năng thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh; một tài sản được gọi là có khả năng thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp”. Tóm lại, có thể hiểu khả năng thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn.
Phương pháp đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Phương pháp cung cầu thanh khoản Tại một thời điểm, trạng thái thanh khoản được tạo ra do chênh lệch giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản. 10 Các nguồn cung thanh khoản là các dòng tiền vào mà các NHTM có thể sử dụng được tại thời điểm hiện tại hoặc trong thời gian ngắn để đáp ứng các nghĩa vụ phải chi trả của mình. Các nguồn cung thanh khoản có thể đến từ các nguồn như sau: Các loại tiền gửi tiết kiệm huy động được từ thị trường Các khoản hoàn trả tín dụng Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ Dòng tiền từ các khoản vay Dòng tiền từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản Phát hành cổ phiếu ra thị trường.
Cầu về thanh khoản thể hiện nhu cầu của dòng tiền đi ra khỏi NHTM nhằm đáp ứng các nghĩa vụ phải chi trả của ngân hàng. Cầu thanh khoản có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân sau: Nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng Giải ngân các khoản cho vay theo thỏa thuận Hoàn trả các khoản đi vay Thanh toán chi phí hoạt động và lãi huy động Thanh toán cổ tức Mua lại cổ phiếu. Theo Trương Quang Thông (2012) thì trạng thái thanh khoản có 2 trạng thái: khả năng thanh khoản thặng dư và khả năng thanh khoản thiếu hụt. Khả năng thanh khoản thặng dư nghĩa là tổng cung thanh khoản lớn hơn tổng cầu thanh khoản.
Lúc này các NHTM đang ở trong tình trạng thanh khoản rất tốt. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc các NHTM đang phải đối mặt với việc nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản. Khi đó nhà quản lý phải đưa ra quyết định để sử dụng nguồn thanh khoản thừa này một cách hợp lý và đúng thời điểm để đầu tư kiếm lời trong thời gian chờ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho tương lai. Khả năng thanh khoản thiếu hụt: Ngân hàng đang trong tình trạng thiếu vốn để hoạt động.
Khi ngân hàng không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, của nền kinh tế có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối, 11 nghĩa là thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền kinh tế. Thiếu vốn tuyệt đối dễ mất những cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, thậm chí có khả năng mất khách hàng khi họ phải đến ngân hàng khác để được đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn. Từ việc mất khách hàng vay vốn sẽ kéo theo việc mất khách hàng tiền gửi, vì khi ngân hàng thiếu vốn sẽ làm giảm lòng tin người gửi tiền, khả năng huy động vốn của ngân hàng kém đi. Khả năng thanh khoản cân bằng: Khi cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản thì tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiêu đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế.2 Phương pháp khe hở tài trợ Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng. Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ (financing gap). Khe hở này được đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và tổng dư nợ trung bình. Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình Nếu khe hở này là dương thì ngân hàng buộc phải bù đắp bằng các khoản tiền mặt và các tài sản có khả năng thanh khoản hoặc vay nợ trên thị trường tiền tệ.
Phương pháp tỷ số Một số tác giả như Shah và cộng sự (2018), Al‐Homaidi và cộng sự (2019), Al- Qudah (2020) đã tập trung vào các tỷ số thanh khoản như sau: 𝑇𝑎̀𝑖 𝑠𝑎̀𝑛 𝑡ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜𝑎̀𝑛 𝐿1 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡𝑎̀𝑖 𝑠𝑎̀𝑛 Tỷ số này cung cấp một thông tin chung về khả năng thanh khoản của ngân hàng. Tức là trong tổng tài sản của ngân hàng tỷ trọng tài sản thanh khoản là bao nhiêu. Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng rất tốt. 𝑇𝑎̀𝑖 𝑠𝑎̀𝑛 𝑡ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜𝑎̀𝑛 𝐿2 = (𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑉ố𝑛 ℎ𝑢𝑦 độ𝑛𝑔 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛) 12 Tỷ số thanh khoản L2 sử dụng tài sản thanh khoản để đo lường khả năng thanh khoản là rất tốt.
Tuy nhiên, tỷ lệ này tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng khi lựa chọn các nguồn tài chính để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh (bao gồm tiền gửi của các hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khác). Tỷ số này cũng giống L1, tức là tỷ số này cao cũng thể hiện thanh khoản của ngân hàng là tốt. 𝐾ℎ𝑜𝑎̀𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎̀𝑦 𝐿3 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡𝑎̀𝑖 𝑠𝑎̀𝑛 Tỷ số này thể hiện tỷ lệ của các khoản cho vay trên tổng tài sản ngân hàng. Do đó tỷ lệ này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu.
𝐾ℎ𝑜𝑎̀𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎̀𝑦 𝐿4 = (𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑁𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛) Tỷ số này cũng giống L3, tức là nếu cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu. (𝐷𝑢 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎̀𝑦 − 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 𝑐𝑢𝑎̀ 𝑘ℎá𝑐ℎ ℎà𝑛𝑔) 𝐿5 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠𝑎̀𝑛 Tỷ số L5 càng cao cho thấy ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản càng lớn. Tỷ số này sẽ phản ánh được một cách chính xác rủi ro thanh khoản mà các ngân hàng đang đối mặt vì tỷ lệ này càng cao sẽ thể hiện sự chênh lệch càng lớn giữa dư nợ cho vay và tiền gửi của khách hàng. Khi đó ngân hàng phải dùng tiền mặt và tài sản thanh khoản để tài trợ cho việc thực hiện giải ngân cho các khoản vay đó dẫn đến làm tăng rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng.
Các tỷ số này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác nhau, tùy vào mục tiêu nghiên cứu và điều kiện thực tế sẽ sử dụng tỷ số phù hợp để làm biến phụ thuộc nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các NHTM. Các lý thuyết về thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản (The Commercial Lending and Liquidity Theory) Lý thuyết cho vay thương mại (Smith, 1776) phát biểu rằng các NHTM huy động vốn chủ yếu từ vốn ngắn hạn nên ngân hàng cần đầu tư vào tài sản ngắn hạn thông qua cho vay mua bán ngắn hạn, điều này sẽ giúp ngân hàng cân đối thời hạn 13 giữa tài sản và nguồn vốn, do đó đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng. Lý thuyết này có ý nghĩa quan trọng trong làm rõ vai trò của cho vay thương mại, đồng thời ngụ ý rằng các NHTM cần tập trung vào cho vay đảm bảo khả năng thanh khoản.
Tuy nhiên, lý thuyết này cũng có một hạn chế nhất định, thứ nhất, đó là hạn chế trong việc đánh giá thời hạn của vốn huy động, mặc dù phần lớn vốn huy động có thời hạn ngắn hoặc không xác định, nhưng trong các NHTM vốn việc huy động diễn ra liên tục, tạo ra các dòng tiền liên tiếp. Hạn chế tiếp theo của lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản là tầm quan trọng của cho vay phi thương mại đối với trung và dài hạn không được đánh giá đúng mức. Hiện nay, cho vay bất động sản, cho vay mua tài sản cố định và cho vay tiêu dùng dài hạn chiếm tỷ trọng cao của hoạt động cho vay của NHTM. Giải pháp cho hạn chế cho vay phi mậu dịch có thể giúp các NHTM đảm bảo thanh khoản, nhưng tất yếu dẫn đến giảm lãi thu nhập của ngân hàng.