Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế Việt Nam, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò then chốt đối với tăng trưởng và ổn định an sinh xã hội. Dẫn liệu từ Vũ Long (2022) trong nghiên cứu cho thấy, DNNVV chiếm khoảng 98% trên tổng số hơn 800.000 doanh nghiệp của cả nước, đóng góp 40% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), nộp ngân sách nhà nước 30% và thu hút hơn 60% lực lượng lao động. Do quy mô vốn tự có hạn chế và giá trị tài sản thế chấp thấp, các DNNVV khó có thể huy động vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán mà phải phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM).
Tuy nhiên, theo Naoyuki Yoshino (2018), các DNNVV gặp trở ngại lớn trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng do tình trạng thông tin bất cân xứng và chi phí giao dịch cao giữa bên cung và bên cầu vốn. Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tác giả trích dẫn ghi nhận chỉ khoảng 30% DNNVV hiện đang tiếp cận được nguồn vốn vay tại các ngân hàng. Trong khi nhiều công trình nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của Phạm Duy Hùng, 2017) chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc nhìn của bên đi vay (chủ doanh nghiệp), thì hướng tiếp cận từ phía đơn vị cấp tín dụng – cụ thể là đội ngũ nhân viên trực tiếp thẩm định và xét duyệt khoản vay tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) – vẫn còn khoảng trống thực nghiệm. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Lý Nhựt Long thực hiện đề tài khóa luận nhằm phân tích các nhân tố chi phối hoạt động cho vay DNNVV dưới góc nhìn của các NHTMCP.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là xác định và lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNNVV tại các NHTMCP Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm mở rộng quy mô cấp tín dụng cho khối doanh nghiệp này. Mục tiêu tổng quát được cụ thể hóa thành 03 mục tiêu cụ thể:
- Một là, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNNVV tại các NHTMCP Việt Nam.
- Hai là, định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động cho vay DNNVV tại các NHTMCP Việt Nam.
- Ba là, đề xuất các hàm ý quản trị nhằm mở rộng cho vay đối với DNNVV tại các NHTM ở Việt Nam trong tương lai.
Gắn liền với các mục tiêu trên, đề tài giải quyết 03 câu hỏi nghiên cứu:
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNNVV tại các NHTMCP Việt Nam?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNNVV tại các NHTMCP Việt Nam như thế nào?
- Những hàm ý đề xuất nhằm mở rộng cho vay đối với DNNVV tại các NHTMCP ở Việt Nam trong tương lai là gì?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNNVV tại các NHTMCP Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế tại các NHTMCP trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian và nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát các nhân viên tín dụng công tác tại các NHTMCP trong giai đoạn từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2022; dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2020 - 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa các khái niệm pháp lý, lý luận tín dụng và hai lý thuyết kinh tế tài chính nền tảng:
- Khái niệm và phân loại DNNVV: Nghiên cứu viện dẫn quan điểm của Edit Lukac (2005), Masarat Ayat và cộng sự (2011), Vương Đức Hoàng Quân (2014) và áp dụng tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ dựa trên hai tiêu chí chính là tổng nguồn vốn và số lượng lao động.
- Hoạt động cho vay của NHTM: Tiếp cận theo định nghĩa của Mai Văn Bạn (2009) và Bùi Diệu Anh (2009, 2011), xem xét cho vay là sự chuyển giao giá trị tạm thời có hoàn trả gốc và lãi. Hoạt động cho vay được phân loại theo thời hạn (ngắn, trung, dài hạn), mục đích sử dụng vốn (tiêu dùng, kinh doanh), tài sản bảo đảm (có hoặc không có tài sản bảo đảm), và phương thức cho vay (trực tiếp từng lần, hạn mức tín dụng, thấu chi, luân chuyển, trả góp, gián tiếp, hợp vốn).
- Lý thuyết trung gian tài chính: Dẫn theo Andries và cộng sự (2009), giải thích vai trò của ngân hàng thương mại như một tổ chức chuyên trách giảm thiểu chi phí giao dịch và khắc phục tình trạng thiếu hụt thông tin giữa người gửi tiền và người vay tiền.
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng: Theo Akerlof (1978), phân tích hiện tượng bên đi vay nắm giữ nhiều thông tin nội bộ hơn bên cho vay, buộc ngân hàng phải áp dụng các rào cản kỹ thuật như tài sản thế chấp và thẩm định nghiêm ngặt để hạn chế rủi ro lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
- Mô hình thông tin cứng và thông tin mềm: Dẫn theo Vương Hoàng Anh (2014), nghiên cứu chia các yếu tố ảnh hưởng thành hai nhóm: thông tin cứng mang tính định lượng gồm Tài sản thế chấp (Blazy và cộng sự, 2013; Adu và cộng sự, 2018), Kế hoạch kinh doanh (Abdesamed và cộng sự, 2012, 2014), Báo cáo tài chính (Menicucci, 2019), Lịch sử tín dụng (Sarap, 1990; Beck, 2008); và thông tin mềm mang tính định tính gồm Năng lực chủ doanh nghiệp (Eniola và cộng sự, 2017) cùng Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân hàng (Berger và cộng sự, 2006; Boot và cộng sự, 2002; Uchida và cộng sự, 2012).
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài phối hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tác giả tiến hành thảo luận nhóm chuyên gia qua 02 giai đoạn. Giai đoạn một thảo luận cùng 10 nhân viên tín dụng phụ trách xét duyệt hồ sơ DNNVV tại TP.HCM nhằm đánh giá tính tương thích của mô hình lý thuyết và hiệu chỉnh các biến quan sát. Giai đoạn hai phỏng vấn 15 đại diện DNNVV để hoàn thiện câu chữ và tính dễ hiểu của bảng câu hỏi khảo sát.
- Nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng câu hỏi đóng gửi trực tuyến đến các nhân viên tín dụng tại các NHTMCP ở TP.HCM. Cấu trúc bảng hỏi gồm thông tin nhân khẩu học và thang đo Likert 5 bậc (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý).
- Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện phi xác suất. Tác giả tham chiếu tiêu chuẩn cỡ mẫu của Harris (2001) với yêu cầu $n \ge 104 + m$ (tương đương $n \ge 110$) và Tabachnick & Fidell (2007) cho phân tích hồi quy với $n \ge 8 \times m + 150 = 198$ (tác giả ghi nhận ngưỡng tối thiểu 190 đến 195 quan sát). Trên cơ sở đó, tác giả phát ra 250 phiếu khảo sát, thu về 230 phản hồi (tỷ lệ 92%), và chọn lọc được 200 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích.
- Công cụ xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để thực hiện: thống kê mô tả; kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha (loại biến khi hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3; thang đo đạt yêu cầu khi Alpha từ 0,6 trở lên); phân tích nhân tố khám phá EFA (với các tiêu chí KMO $\ge 0,5$, kiểm định Bartlett có Sig. < 0,05, Eigenvalue $\ge 1$, Factor Loading $> 0,5$, tổng phương sai trích $> 50%$); phân tích hệ số tương quan Pearson; phân tích hồi quy nhị phân (Binary Logistic Regression) với kiểm định Omnibus, độ phù hợp mô hình qua -2LL, Cox & Snell $R^2$ và Nagelkerke $R^2$; cùng các kiểm định T-test và ANOVA để đánh giá khác biệt nhân khẩu học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương này thiết lập nền tảng đề tài thông qua tính cấp thiết của hoạt động cấp tín dụng cho khối DNNVV – lực lượng chiếm 98% tổng số doanh nghiệp và tạo ra 60% việc làm nhưng chỉ có 30% tiếp cận được vốn ngân hàng. Tác giả xác định rõ mục tiêu tổng quát, 03 mục tiêu cụ thể, 03 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi thời gian (tháng 11 - 12/2022 đối với số liệu khảo sát sơ cấp; giai đoạn 2020 - 2022 đối với báo cáo tài chính thứ cấp), không gian (các NHTMCP tại TP.HCM). Chương 1 cũng trình bày đóng góp kỳ vọng của đề tài và kết cấu khóa luận gồm 05 chương.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khảo lược các nghiên cứu trước
Chương 2 hệ thống hóa lý luận về DNNVV, đặc điểm vận hành của khối này (vốn mỏng, lao động trình độ chưa cao, quản lý gọn nhẹ nhưng thiếu chuyên môn hóa), cùng các quy định phân loại theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP được tổng hợp tại bảng sau:
| Ngành nghề kinh doanh |
Doanh nghiệp nhỏ (Quy mô vốn / Lao động) |
Doanh nghiệp vừa (Quy mô vốn / Lao động) |
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản |
Tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng / Lao động từ 10 đến 200 người |
Vốn lớn hơn 20 đến 100 tỷ đồng / Lao động từ hơn 200 đến 300 người |
| Công nghiệp và xây dựng |
Tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng / Lao động từ 10 đến 200 người |
Vốn lớn hơn 20 đến 100 tỷ đồng / Lao động từ hơn 200 đến 300 người |
| Thương mại và dịch vụ |
Tổng nguồn vốn không quá 10 tỷ đồng / Lao động từ 10 đến 50 người |
Vốn lớn hơn 10 đến 50 tỷ đồng / Lao động từ hơn 50 đến 100 người |
Chương này phân tích bản chất quyết định cho vay dưới giác độ trung gian tài chính và bất cân xứng thông tin, đồng thời phân định vai trò của thông tin cứng và thông tin mềm. Tác giả khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm trong nước (Trần Hữu Ái và cs., 2022; Lê Thị Mẫn và cs., 2020; Nguyễn Hoàng Anh, 2014) và nước ngoài (Ekhaa Boushnak và cs., 2018; Abdulaziz M Abdulsaleh và cs., 2016; Chokey Wangmo, 2017; Khalid Hassan Abdesamed và cs., 2014). Từ đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu khi các nghiên cứu trước chưa xem xét đầy đủ kế hoạch kinh doanh hoặc chưa khảo sát toàn diện các nhân tố theo hướng nhìn của nhân viên xét duyệt tín dụng tại NHTMCP.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu chuẩn hóa qua 9 bước và mô hình nghiên cứu hồi quy nhị phân:
$$\text{Logit}(P) = \ln\left(\frac{P}{1-P}\right) = \beta_0 + \beta_1 TSTC + \beta_2 KHKD + \beta_3 BCTC + \beta_4 LSTD + \beta_5 NL + \beta_6 MQH + \epsilon$$
Trong đó, biến phụ thuộc là Quyết định cho vay (QDCV), nhận giá trị 1 nếu ngân hàng chấp thuận cho vay và giá trị 0 nếu từ chối cho vay. Sáu giả thuyết nghiên cứu ($H_1$ đến $H_6$) được xác lập với kỳ vọng dấu dương (+) cho 6 biến độc lập: Tài sản thế chấp (TSTC), Kế hoạch kinh doanh (KHKD), Báo cáo tài chính (BCTC), Lịch sử tín dụng (LSTD), Năng lực chủ sở hữu (NL), và Mối quan hệ (MQH).
Hệ thống thang đo chính thức gồm 22 biến quan sát được mã hóa cụ thể:
- Thang đo TSTC (03 biến: TSTC1 - cung cấp thông tin tài sản nhanh chóng; TSTC2 - tính thanh khoản của tài sản; TSTC3 - có tài sản thế chấp).
- Thang đo KHKD (03 biến: KHKD1 - kế hoạch phù hợp khoản vay; KHKD2 - tính khả thi; KHKD3 - nguồn trả nợ không hoàn toàn phụ thuộc vào thu nhập kinh doanh).
- Thang đo BCTC (03 biến: BCTC1 - báo cáo được kiểm toán; BCTC2 - độ tin cậy của chỉ số tài chính; BCTC3 - cung cấp nhanh chóng).
- Thang đo LSTD (04 biến: LSTD1 - tỷ lệ nợ dưới chuẩn không quá thấp; LSTD2 - không có nợ xấu; LSTD3 - dư nợ hiện tại của doanh nghiệp/lãnh đạo; LSTD4 - điểm xếp hạng tín dụng đạt điều kiện).
- Thang đo NL (05 biến: NL1 - quản lý vốn lưu động; NL2 - giải trình tài chính chuyên nghiệp; NL3 - năng lực quản lý tổng thể; NL4 - xác định đúng số vốn tài trợ thực tế cần thiết; NL5 - hiểu biết về dịch vụ ngân hàng).
- Thang đo MQH (04 biến: MQH1 - quan hệ tích cực với ngân hàng; MQH2 - quan hệ từ các khoản vay trước; MQH3 - ưu tiên từ mối quan hệ; MQH4 - tiền sử vay vốn của doanh nghiệp/lãnh đạo).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 xử lý 200 mẫu khảo sát hợp lệ thu thập từ các nhân viên tín dụng tại các NHTMCP TP.HCM. Cơ cấu mẫu nghiên cứu được thể hiện qua bảng sau:
| Đặc điểm nhân khẩu học |
Phân loại |
Tần suất (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nam |
111 |
55,5 |
|
Nữ |
89 |
44,5 |
| Độ tuổi |
Dưới 25 tuổi |
30 |
15,0 |
|
Từ 25 đến 35 tuổi |
40 |
20,0 |
|
Từ 36 đến 50 tuổi |
93 |
46,5 |
|
Trên 50 tuổi |
37 |
18,5 |
| Trình độ học vấn |
Đại học |
141 |
70,5 |
|
Trên đại học |
39 |
19,5 |
|
Khác |
20 |
10,0 |
| Thời gian làm việc |
Dưới 3 năm |
24 |
12,0 |
|
Từ 3 đến 5 năm |
80 |
40,0 |
|
Từ 6 đến 10 năm |
68 |
34,0 |
|
Trên 10 năm |
28 |
14,0 |
| Thời gian công tác tín dụng |
Dưới 1 năm |
52 |
26,0 |
|
Từ 1 đến 2 năm |
68 |
40,0 |
|
Trên 2 năm |
80 |
34,0 |
Thống kê mô tả 22 biến quan sát cho thấy giá trị trung bình (Mean) dao động từ mức thấp nhất là 3,67 (biến MQH3, độ lệch chuẩn 1,162) đến mức cao nhất là 3,93 (các biến TSTC1, LSTD4, NL5 với độ lệch chuẩn tương ứng là 0,900; 0,977; 0,972).
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha ban đầu cho thấy các thang đo đều có tính nhất quán nội tại rất cao:
- Thang đo Tài sản thế chấp: Hệ số Alpha đạt 0,876; hệ số tương quan biến - tổng của TSTC1 đạt 0,748; TSTC2 đạt 0,724; TSTC3 đạt 0,817.
- Thang đo Kế hoạch kinh doanh: Hệ số Alpha đạt 0,883; hệ số tương quan biến - tổng của KHKD1 đạt 0,721; KHKD2 đạt 0,830; KHKD3 đạt 0,770.
- Thang đo Báo cáo tài chính: Hệ số Alpha đạt 0,830; hệ số tương quan biến - tổng của BCTC1 đạt 0,659; BCTC2 đạt 0,670.
Phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích tương quan Pearson khẳng định tính hội tụ và phân biệt của dữ liệu. Mô hình hồi quy Binary Logistic cùng các kiểm định T-test, ANOVA chỉ ra các nhân tố đều có ý nghĩa thống kê; trong đó yếu tố Năng lực (NL) của chủ doanh nghiệp được ghi nhận có tác động lớn nhất đến quyết định cấp tín dụng, tiếp theo là các yếu tố tài sản thế chấp, kế hoạch kinh doanh, báo cáo tài chính, lịch sử tín dụng và mối quan hệ.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương cuối cùng tổng kết các kết quả đạt được, đối chiếu với các mục tiêu nghiên cứu ban đầu và đưa ra hệ thống hàm ý quản trị cho ban điều hành các NHTMCP tương ứng với từng yếu tố: hoàn thiện quy trình định giá và thanh lý tài sản thế chấp; thiết lập tiêu chuẩn đánh giá tính khả thi thực tế của kế hoạch kinh doanh; áp dụng các công cụ rà soát chéo số liệu báo cáo tài chính chưa kiểm toán; tận dụng dữ liệu lịch sử tín dụng từ hệ thống CIC; xây dựng khung phỏng vấn năng lực quản trị tài chính của lãnh đạo DNNVV; và triển khai mô hình cho vay theo quan hệ khách hàng dài hạn.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm định lượng rõ ràng từ 200 mẫu khảo sát hợp lệ tại các NHTMCP:
- Đặc điểm mẫu: Nhân sự thẩm định tín dụng tham gia khảo sát có tỷ lệ nam giới chiếm 55,5%, nữ giới chiếm 44,5%; độ tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất là 36 - 50 tuổi (46,5%); trình độ học vấn đại học chiếm 70,5% và trên đại học chiếm 19,5%; thâm niên công tác tín dụng từ 1 năm trở lên chiếm đa số (tổng cộng 74%).
- Độ tin cậy thang đo: Các thang đo kiểm định đều đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha vượt trội (TSTC đạt 0,876; KHKD đạt 0,883; BCTC đạt 0,830), tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến - tổng lớn hơn 0,65, không có biến nào bị loại.
- Thứ tự tác động của các yếu tố: Kết quả phân tích khẳng định biến Năng lực chủ doanh nghiệp (NL) có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định cho vay của ngân hàng. Các yếu tố thông tin cứng (tài sản thế chấp, kế hoạch kinh doanh, báo cáo tài chính, lịch sử tín dụng) và thông tin mềm (mối quan hệ) đều có tác động cùng chiều (+) và mang ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động cấp tín dụng cho DNNVV.
Các giải pháp và hàm ý quản trị do tác giả đề xuất:
- Về năng lực chủ sở hữu: Nhân viên tín dụng cần chú trọng đánh giá kiến thức quản lý vốn lưu động, khả năng hiểu biết báo cáo tài chính và sự tường tận về các sản phẩm tài chính ngân hàng của người đứng đầu doanh nghiệp thông qua phỏng vấn trực tiếp.
- Về tài sản thế chấp: Ngân hàng cần linh hoạt hóa danh mục tài sản bảo đảm, chấp nhận các tài sản có tính thanh khoản đa dạng, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý thủ tục định giá tài sản thế chấp.
- Về kế hoạch kinh doanh: Xây dựng biểu mẫu thẩm định chuyên biệt để kiểm tra tính khả thi của dòng tiền dự án, đồng thời xem xét các nguồn thu nhập bổ trợ khác ngoài hoạt động kinh doanh chính nhằm tăng tính an toàn cho khoản nợ.
- Về báo cáo tài chính: Tăng cường rà soát tính minh bạch của các chỉ số tài chính, ưu tiên và có chính sách khuyến khích đối với các doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính đã qua kiểm toán độc lập.
- Về lịch sử tín dụng: Kiểm tra nghiêm ngặt thông tin phân loại nợ trên hệ thống CIC, giám sát chặt chẽ tình trạng nợ xấu và dư nợ hiện hữu của cả pháp nhân doanh nghiệp lẫn cá nhân người quản lý.
- Về mối quan hệ: Xây dựng chính sách chăm sóc và ưu đãi lãi suất, hạn mức đối với những khách hàng có lịch sử giao dịch tín dụng tích cực, duy trì sự gắn kết lâu dài để giảm thiểu chi phí thu thập thông tin.
Đóng góp của khóa luận:
- Bổ khuyết khoảng trống học thuật bằng việc phân tích quyết định cấp tín dụng DNNVV từ góc nhìn trực tiếp của đội ngũ cán bộ tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam thay vì góc nhìn người đi vay.
- Xây dựng và kiểm định thành công bộ thang đo tích hợp cả thông tin cứng và thông tin mềm (22 biến quan sát) phù hợp với thực tiễn hoạt động ngân hàng tại TP.HCM.
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm cho các nhà quản trị ngân hàng trong việc hiệu chỉnh chính sách tín dụng và quản trị rủi ro cho vay DNNVV.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ rõ các giới hạn thực tế trong quá trình thực hiện:
- Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện phi xác suất với quy mô 200 quan sát hợp lệ, do đó tính đại diện tổng thể cho toàn hệ thống NHTM tại Việt Nam chưa tuyệt đối.
- Phạm vi không gian nghiên cứu bị giới hạn tại khu vực TP.HCM, chưa thực hiện khảo sát so sánh tại các trung tâm kinh tế khác hoặc các địa bàn nông thôn.
- Đối tượng khảo sát thuần nhất là nhân viên tín dụng tại khối Ngân hàng Thương mại Cổ phần, chưa mở rộng sang khối Ngân hàng Thương mại Nhà nước, ngân hàng liên doanh hoặc các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Mở rộng quy mô mẫu điều tra và ứng dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên xác suất nhằm nâng cao giá trị tổng quát hóa của mô hình.
- Mở rộng phạm vi địa lý ra nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước để phân tích sự khác biệt về vùng miền trong quyết định cấp tín dụng cho DNNVV.
- Khảo sát bổ sung các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước và các định chế tài chính vi mô để tạo ra bức tranh so sánh toàn diện hơn.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng và Qu