Mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại và các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị ---------------------------------------------------------------------------- KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Tiếp cận góc độ tài chính, chương này đã chỉ ra tầm quan trọng của lợi nhuận đối với việc đo lường và đánh giá hiệu quả tài chính của NHTM, góp phần vào sự tồn tại và phát triển của NHTM. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra được sự cần thiết và 7 tính tất yếu trong việc nghiên cứu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM từ các bằng chứng thực nghiệm là các nghiên cứu trước của nhiều tác giả khác nhau và thực tiễn các NHTM Việt Nam, đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu được lựa chọn.
Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đã đưa ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian; theo đó đề tài giới hạn nghiên cứu 23 NHTM có cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 10 từ năm 2010 đến năm 2019. Sau khi đề tài đã khẳng định ý nghĩa, đóng góp về việc cung cấp thông tin hữu ích cho các chủ thể khác nhau, chẳng hạn như đối với nhà quản trị NHTM hay đối với nhà đầu tư, Chính phủ hay NHNN. Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc của đề tài với 5 chương nội dung chính.
8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC CÓ LIÊN QUAN 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Khái niệm về lợi nhuận của Ngân hàng Hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời (bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng). Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng. Có thể nói đơn giản là, trong nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng trả lãi tiền gửi cho người gửi tiền, trong nghiệp vụ cấp tín dụng, ngân hàng thu tiền lãi cho vay, còn trong hoạt động dịch vụ, ngân hàng sẽ thu phí. Do đó lợi nhuận của NHTM cũng xuất phát từ các hoạt động kinh doanh này. Lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu trừ đi tổng các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ trong năm tài chính.
Thời điểm xác định lợi nhuận hàng năm được thực hiện vào cuối ngày 31/12 khi quyết toán niên độ, lập báo cáo tài chính năm. Chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận của NHTM Hầu hết các nghiên cứu về lợi nhuận được đo lường thông qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) như các nghiên cứu từ trước đến nay của Athanasoglou, Delis và Staikouras (2006), Wahdan và Leithy (2017), Abreu và Mendes (2002), Ngô Kim Phượng, Lê Hoàng Vinh và các cộng sự (2018). Ngoài ra, nghiên cứu của Gul, Irshad và Zaman (2011), Francis 9 (2013), San và Heng (2012) đã bổ sung chỉ tiêu tỷ lệ lãi cận biên (NIM) để đo lường lợi nhuận của các NHTM. Trong 3 biến phụ thuộc thường được sử dụng, biến NIM chỉ phản ánh lợi nhuận đạt được từ hoạt động cấp tín dụng, ROE phản ánh lợi nhuận đạt được so với vốn chủ sở hữu, do đó sẽ bị ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính.
Với mục tiêu của đề tài hướng đến là đánh giá lợi nhuận một cách tổng quát trong hoạt động của các ngân hàng. Do đó, đề tài nghiên cứu lựa chọn chỉ tiêu đo lường là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return On Asset – ROA) làm biến phụ thuộc. ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng (Trần Huy Hoàng 2011). ROA là chỉ tiêu thể hiện tương quan giữa lợi nhuận được tạo ra của một doanh nghiệp so với tài chính của doanh nghiệp đó.
Chỉ số này cho biết tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả chỉ tiêu này cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. ROA = Lãi ròng (Lợi nhuận thuần, lợi nhuận ròng, lợi nhuận sau thuế)/Tổng tài sản.
ROA cho thấy lợi nhuận thu được trên mỗi đồng tài sản và phản ánh khả năng quản lý hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng hiệu quả để tạo ra lợi nhuận. Như vậy, một tỷ lệ ROA cao có nghĩa là khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng vào thu nhập lớn với một hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hơn. Tỷ lệ ROA cao là một chỉ báo rõ rang về hiệu suất hoặc lợi nhuận tốt của một tổ chức ngân hàng (Bentum 2012). Rivard và Thomas (1997) đã sử dụng mẫu của 218 ngân hàng thương mại cho rằng ROA là tỷ số tốt nhất đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng vì ROA không chỉ là chỉ số đánh giá khả năng của quản lý hoạt động ngân hàng nhằm tạo ra lợi nhuận trên danh mục đầu tư của các tài sản mà còn không bị bóp méo bởi vốn chủ sở hữu cao do đòn bẩy tài chính tạo nên.
Các ngân hàng có cùng quy mô tài sản, ngân hàng nào có ROA cao chứng tỏ ngân hàng đó có chính sách kinh doanh và đầu tư hiệu quả. Chỉ số này có thể tính toán 10 với nhiều số đo lợi nhuận, chẳng hạn lợi nhuận trước và sau dự phòng, lợi nhuận trước và sau thuế và các khoản khác thường (Nguyễn Thị Cành, 2009). CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Quy mô ngân hàng Theo lý thuyết kinh tế về lợi thế quy mô (Economies of scale theory), quy mô ngân hàng càng lớn thì chi phí trong dài hạn giảm và do đó góp phần gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng; tuy nhiên lý thuyết bất lợi kinh tế vi quy mô ( Diseconomies of scale theory) thì ngược lại với nội dung lợi thế về quy mô chỉ phát huy trong một giới hạn nhất định nào đó mà khi quá ngưỡng trên việc tăng quy mô không còn đem lại lợi thế nữa khi chi phí bình quân trong dài hạn có xu hướng gia tăng từ đó lợi nhuận sẽ giảm đi.
Do đó, việc quy mô ngân hàng có ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận sẽ còn phụ thuộc vào mức độ quy mô của ngân hàng hiện tại có thực sự phù hợp và dựa trên cơ sở là hai lý thuyết trên. Quy mô vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn được tạo nên từ sự góp vốn ban đầu bởi chủ sở hữu của các ngân hàng và được bổ sung từ lợi nhuận được giữ lại trong quá trình hoạt động kinh doanh. Quy mô vốn chủ sở hữu không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận, nhưng vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của NHTM, qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận; chẳng hạn như NHTM gia tăng vốn chủ sở hữu cũng giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính để đảm bảo hệ số an toàn vốn tiến tới việc đáp ứng đủ tiêu chuẩn về CAR của Basel II, gia tăng niềm tin nơi người gửi tiền, từ đó gia tăng cơ hội cho NHTM để có thể huy động vốn với lãi suất thấp hơn, chi phí trả lãi sẽ ít hơn và do đó làm cho lợi nhuận tăng lên; hay nhờ vốn chủ sở hữu lớn hơn nên các NHTM được cơ hội mở rộng hơn hoạt động đầu tư cũng như cấp tín dụng và qua đó góp phần tạo nên lợi nhuận nhiều hơn, góp phần gia tăng lợi nhuận. Quy mô cho vay Lý thuyết chung về quản trị tài chính, đầu tư là một trong những quyết định tài chính chủ yếu và là cơ sở tạo ra thu nhập cho các chủ thể.
Cho vay được xem là 11 một trong những khoản mục tài sản hình thành từ quyết định đầu tư của NHTM, là cơ sở mang lại lợi nhuận cho NHTM, vì vậy quy mô cho vay càng lớn thì càng mang lại cơ hội cho NHTM có thể tạo ra được nhiều lợi nhuận. Tuy vậy, ở một khía cạnh khác, theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận đã được đề cập ở trên nếu thị trường nhiều rủi ro kèm theo sự gia tăng rủi ro tín dụng nhưng không kiểm soát được hoặc khả năng kiểm soát kém cũng có thể làm cho sự gia tăng quy mô cho vay ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM biến động theo chiều hướng tiêu cực. Rủi ro tín dụng Theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận trong quản trị tài chính, NHTM cấp tín dụng cho khách hàng và kỳ vọng mang cho NHTM một khoản lợi nhuận; tuy nhiên lợi nhuận mà NHTM đạt được có thể cao, bằng hoặc thấp hơn kỳ vọng, điều này được lý giải bởi ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận, có thể không có ảnh hưởng của rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của NHTM, nhưng cũng có thể rủi ro tín dụng có ảnh hưởng làm giảm lợi nhuận của NHTM.