Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng tích trữ nhu yếu phẩm của người tiêu dùng tp hcm trong đại dịch covid 19

Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tích trữ nhu yếu phẩm tại TP.HCM trong đại dịch COVID-19, giúp hiểu rõ nguyên nhân và giải pháp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo nhóm môn

2022

90
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT BÁO CÁO

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

1.2. Lý do chọn đề tài

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa nghiên cứu

1.5.1. Ý nghĩa lý thuyết

1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Mua hàng hoảng loạn

2.2. Sự hối tiếc dự đoán

2.3. Sự khan hiếm

2.4. Ảnh hưởng trực tiếp

2.5. Ảnh hưởng gián tiếp

2.6. Các chuẩn mực xã hội

2.7. Học tập quan sát

2.8. Các biến về tâm lý (tham khảo)

2.9. Mô hình nghiên cứu

2.9.1. Mô hình nghiên cứu trước (Nghiên cứu của Barnes, S.)

2.9.2. Mô hình nghiên cứu của đề tài (Yuen, K.)

2.9.3. Lý do chọn mô hình. Các giả thuyết được đặt ra

2.10. Các giả thuyết nghiên cứu

2.10.1. Sự khan hiếm dự đoán ảnh hưởng đến hành vi mua sắm hoảng loạn

2.10.2. Sự hối tiếc dự đoán ảnh hưởng đến việc mua sắm hoảng loạn

2.10.3. Nhận thức về sự khan hiếm được ảnh hưởng đến sự hối tiếc dự đoán

2.10.4. Sự tác động trực tiếp ảnh hưởng đến nhận thức về sự khan hiếm

2.10.5. Tác động gián tiếp ảnh hưởng đến nhận thức về sự khan hiếm

2.10.6. Các chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự khan hiếm nhận thức

2.10.7. Ảnh hưởng của việc học quan sát đối với sự khan hiếm được nhận thức

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp đo lường

3.2. Thiết kế khảo sát

3.3. Thu thập dữ liệu

3.4. Kĩ thuật phân tích

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả

4.2. Mô hình đo lường

4.2.1. Đánh giá mức độ tin cậy của mô hình

4.2.2. Đánh giá độ chính xác của mô hình

4.3. Mô hình cấu trúc

4.3.1. Hệ số tổng thể xác định R Square (R bình phương)

4.3.2. Hệ số đường dẫn (Path coefficient)

4.3.3. Phân tích phương sai một yếu tố ANOVA và Post-hoc

4.3.4. Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

4.3.5. Bàn luận về kết quả nghiên cứu

5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Tổng quan kết quả nghiên cứu. Hàm ý quản trị

5.2. Sự khan hiếm dự đoán có ảnh hưởng thúc đẩy hành vi mua sắm hoảng loạn

5.3. Sự hối tiếc được dự đoán trước ảnh hưởng tích cực đến hành vi mua hoảng loạn

5.4. Sự khan hiếm được nhận thức ảnh hưởng tích cực đến cảm giác hối tiếc dự đoán

5.5. Ảnh hưởng xã hội trực tiếp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc nhận thức độ khan hiếm của hàng hóa

5.6. Các chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự khan hiếm nhận thức

5.7. Học tập quan sát có ảnh hưởng trực tiếp đến sự khan hiếm được nhận thức

5.8. Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai

Tài liệu tham khảo

PHỤ LỤC 1: BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

PHỤ LỤC 2: PHIẾU CÂU HỎI KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 3

Tóm tắt

I. Bối cảnh nghiên cứu

Đại dịch COVID-19 đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong hành vi tiêu dùng, đặc biệt là tại TP.HCM. Hành vi mua sắm của người dân đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tâm lý lo sợ và sự khan hiếm hàng hóa. Theo thống kê, nhu cầu về nhu yếu phẩm tăng vọt, dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóatăng giá. Người tiêu dùng đã bắt đầu mua sắm trực tuyến nhiều hơn, với 53% người dùng chọn mua thực phẩm qua mạng. Điều này cho thấy sự chuyển mình trong thói quen tiêu dùng, từ mua sắm truyền thống sang hình thức hiện đại hơn. Tâm lý hoang mang đã khiến nhiều người tích trữ hàng hóa, tạo ra áp lực lên chuỗi cung ứng và làm gia tăng tình trạng lạm phát. Những yếu tố như giãn cách xã hộiphong tỏa đã làm cho việc mua sắm trở nên khó khăn hơn, dẫn đến việc người dân phải tìm kiếm các giải pháp thay thế để đảm bảo nhu cầu thiết yếu.

1.1. Bối cảnh chung

Tình hình dịch bệnh đã làm thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân. Nhu cầu về nhu yếu phẩm tăng cao, trong khi nguồn cung lại bị đứt gãy. Điều này dẫn đến sự khan hiếm hàng hóatăng giá. Các mặt hàng như thực phẩm, đồ dùng gia đình trở thành ưu tiên hàng đầu trong danh sách mua sắm. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng lương thực tăng 4,51% so với năm trước. Sự thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng mà còn tác động đến nền kinh tế nói chung.

1.2. Bối cảnh riêng

TP.HCM, với mật độ dân số cao, đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ trong hành vi mua sắm. Người dân đã đổ xô đi mua hàng, bất chấp nguy hiểm, để tích trữ nhu yếu phẩm. Tâm lý lo sợ về sự khan hiếm hàng hóa đã dẫn đến việc nhiều người tích trữ quá mức, gây ra tình trạng khan hiếm hàng hóalạm phát. Các yếu tố như chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng nặng nề đã làm cho tình hình trở nên nghiêm trọng hơn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về hành vi tiêu dùng trong bối cảnh đại dịch.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng trong đại dịch COVID-19. Các yếu tố này bao gồm yếu tố tâm lý, chuẩn mực xã hội, và hiệu ứng bắt chước. Tâm lý lo sợ về sự khan hiếm hàng hóa đã khiến người tiêu dùng có xu hướng tích trữ nhiều hơn. Ngoài ra, sự ảnh hưởng từ bạn bè và gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen mua sắm. Các nghiên cứu cho thấy rằng khi một người thấy người khác tích trữ hàng hóa, họ cũng có xu hướng làm theo. Điều này tạo ra một vòng xoáy tiêu cực, dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóatăng giá.

2.1. Yếu tố tâm lý

Tâm lý lo sợ và sự bất an là những yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi mua sắm. Khi người tiêu dùng cảm thấy không chắc chắn về tương lai, họ có xu hướng tích trữ hàng hóa để cảm thấy an toàn hơn. Sự hối tiếc dự đoán cũng là một yếu tố quan trọng, khi người tiêu dùng lo lắng về việc không đủ hàng hóa trong tương lai. Điều này dẫn đến việc họ mua sắm một cách hoảng loạn, tạo ra áp lực lên chuỗi cung ứng và làm gia tăng tình trạng khan hiếm hàng hóa.

2.2. Chuẩn mực xã hội

Chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng lớn đến hành vi mua sắm. Khi thấy người khác tích trữ hàng hóa, người tiêu dùng cũng cảm thấy cần phải làm theo để không bị thiệt thòi. Hiệu ứng bắt chước này tạo ra một làn sóng mua sắm, dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóatăng giá. Các nghiên cứu cho thấy rằng sự ảnh hưởng từ bạn bè và gia đình có thể làm tăng đáng kể khả năng tích trữ hàng hóa của một cá nhân.

III. Giải pháp và hàm ý quản trị

Để giảm thiểu tình trạng khan hiếm hàng hóatăng giá, cần có các giải pháp quản lý hiệu quả. Các nhà chức trách cần tăng cường thông tin và giáo dục người tiêu dùng về việc mua sắm hợp lý. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cho chuỗi cung ứng để đảm bảo hàng hóa luôn sẵn có. Việc khuyến khích mua sắm trực tuyến cũng là một giải pháp khả thi, giúp giảm bớt áp lực lên các cửa hàng truyền thống. Các doanh nghiệp cũng cần điều chỉnh chiến lược marketing để phù hợp với tâm lý người tiêu dùng trong thời gian dịch bệnh.

3.1. Tăng cường thông tin

Cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về tình hình hàng hóa sẽ giúp người tiêu dùng có cái nhìn rõ ràng hơn. Điều này có thể giảm bớt tâm lý hoang mang và lo sợ, từ đó hạn chế hành vi mua sắm hoảng loạn. Các chiến dịch truyền thông cần tập trung vào việc khuyến khích người tiêu dùng mua sắm hợp lý và tránh tích trữ không cần thiết.

3.2. Hỗ trợ chuỗi cung ứng

Cần có các chính sách hỗ trợ cho chuỗi cung ứng để đảm bảo hàng hóa luôn sẵn có. Việc tăng cường sản xuất và phân phối hàng hóa sẽ giúp giảm thiểu tình trạng khan hiếm hàng hóa. Các doanh nghiệp cần hợp tác chặt chẽ với nhau để đảm bảo nguồn cung ổn định, đồng thời điều chỉnh giá cả hợp lý để tránh tình trạng tăng giá không kiểm soát.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1.1 Bối cảnh chung Đại dịch COVID ‐ 19 đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố là đại dịch toàn cầu, với 3.119 trường hợp mắc và 278.814 trường hợp tử vong. Điều này đã thúc đẩy các chính phủ trên khắp thế giới khuyến khích công dân của họ thực hành cách xa xã hội và thực hiện kiểm dịch càng nhiều càng tốt để hạn chế lây lan dịch bệnh và phơi nhiễm. Khoảng thời gian khủng hoảng như vậy phá vỡ các thói quen bình thường và tạo ra một cuộc khủng hoảng dựa trên sự sợ hãi. Nó trở thành một cơn dịch của sự nghi ngờ - công dân nghi ngờ mọi thứ và mọi người, coi toàn bộ môi trường là một nguồn lây nhiễm tiềm ẩn.

Những niềm tin như vậy khiến các cá nhân thực hiện thay đổi hành vi hoặc tránh xa các lĩnh vực mà tiêu dùng tư nhân liên quan đến các dịch vụ trực tiếp như du lịch, vận tải và giải trí, tạo ra sự gián đoạn kinh tế lớn. Tuy nhiên, một lĩnh vực dường như không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng như vậy, đó chính là các lĩnh vực kinh doanh mặt hàng nhu yếu phẩm. Trái lại với những mặt hàng xa xỉ hoặc dịch vụ, nhu cầu mua các mặt hàng thiết yếu tăng lên một cách chóng mặt khiến cho sự thiếu hụt hàng hóa tăng cao. Không những thế, việc mua hàng một cách điên cuồng vì lo sợ khiến cho nhiều gia đình tích trữ quá nhiều dẫn đến thừa thãi hàng hóa trong khi những người khác còn đang thiếu thốn.

Chính điều này đã khiến lượng cung và cầu trong ngành công nghiệp nhu yếu phẩm nói chung trở nên không ổn định trong 2 năm trở lại đây. Một mặt, nhu cầu về mặt hàng này tăng cao do đại dịch, nhưng mặt khác, số lượng người có thể cung cấp nguồn lương thực cần thiết lại đang giảm thiểu đáng kể. Theo thống kê, giá thực phẩm toàn thế giới tăng 28% trong năm 2021 và không thấy có dấu hiệu ổn định trở lại trong năm 2022 (theo Reuters 6/1/2022). 0 0 2 Trong những tuần kể từ khi Hoa Kỳ xác nhận trường hợp đầu tiên của COVID- 19, thói quen của người tiêu dùng đã thay đổi.

Đặc biệt, khẩu trang y tế, nước rửa tay, găng tay và giấy vệ sinh đã không còn xuất hiện trên các kệ hàng ở Mỹ, khi nhiều người bắt đầu tìm cách bảo vệ bản thân và chuẩn bị cho thời gian dài bị cô lập trong nhà của họ. Tuy nhiên, đó không phải là những mặt hàng duy nhất mà người tiêu dùng đang chi tiền trong các cửa hàng và trực tuyến. Việc tích trữ các mặt hàng thực phẩm có ý nghĩa về mặt tâm lý. Khi con người cảm thấy bị đe dọa hoặc lo lắng, bản năng đầu tiên của chúng ta là giành được quyền kiểm soát tình huống nào đó.

Các doanh nghiệp sẽ phải xem xét cách khách hàng của họ phản hồi và xây dựng các chiến dịch truyền thông tùy chỉnh cho từng khách hàng cụ thể. Trước hết là những nhu cầu thiết thực của họ bởi vì có ý kiến cho rằng con người ở nhà nhiều hơn, vì vậy họ sẽ cần nhiều thức ăn hơn và điều đó sẽ dẫn đến việc mua hàng hóa một cách hoảng loạn để dự trữ nhiều hơn. Dưới đây là thống kê những mặt hàng người dân mua nhiều trong đại dịch COVID-19 khi phải thực hiện dãn cách xã hội.1 Các mặt hàng thường được mua trực tuyến (nguồn Coresight Research) 0 0 3 Trong một bối cảnh như vậy, hiện tượng mua hàng tích trữ và sự gia tăng của hàng hóa là một vấn đề cấp biến. Nhưng không có nghĩa là nó một hiện tượng tốt.

Nó có thể làm nghiêm trọng vấn đề giá cả khi làm cho các mặt hàng đã khan hiếm ngày càng khan hiếm dẫn đến lạm phát. Cho nên các đề tài nghiên cứu về hành vi này là cần thiết hơn bao giờ hết ở thời điểm hiện tại. Đại dịch COVID-19 vừa qua, Việt Nam cũng phải đối mặt với tình trạng tương khi hành vi mua sắm của người tiêu dùng tại Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn và hầu hết tập trung các mặt hàng về nhu yếu phẩm và sức khỏe. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy trong các tháng đầu năm, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng lương thực tăng 4,51% so với năm trước, các mặt hàng thực phẩm thì tăng 12,28% so với năm trước, trong đó riêng giá thịt heo tăng 57,23%, giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,35%.

Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (Vecom) đã nêu ra rằng dịch Covid-19 đang làm thay đổi thói quen mua sắm của người dân thay vì những cách thức truyền thống không đảm bảo theo thông điệp 5K của chính phủ. Người tiêu dùng hiện nay đã tiến hành mua sắm trực tuyến nhiều hơn, số người chọn hình thức mua sắm trực tuyến tăng nhanh trong nửa đầu năm 2021, khi dịch bệnh có chuyển hướng nghiêm trọng và giãn cách xã hội bắt đầu trở nên khắt khe hơn, nhu cầu về nhu yếu phẩm cũng không còn được đảm bảo. Trong đó, các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, đồ dùng gia đình chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Số liệu điều tra cho thấy 53% người dùng mua sắm thực phẩm online, chiếm tỷ lệ cao nhất; tiếp theo là giày dép, quần áo mỹ phẩm với 43% và đồ dùng gia đình là 33%.2 Các mặt hàng chủ yếu được mua trực tuyến.

(Nguồn: Sách trắng TMĐT) Hơn nữa ngoài việc gia tăng nhu cầu mua nhu yếu phẩm và thay đổi hành vi mua sắm trong hoàn cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, tâm lý hoang mang lo sợ đã thúc đẩy người dân đổ xô đi gom hàng dự trữ để “sống sót” qua mùa dịch, vô tình đẩy thị trường rơi vào thế khó khăn, hàng hóa thiếu hụt trầm trọng.2 Bối cảnh riêng Là trung tâm kinh tế của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh tuy gánh chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID-19 vẫn dẫn đầu trong việc đóng góp vào ngân sách nhà nước. Bởi vì nhu cầu mua hàng hóa tích trữ của người dân địa phương là vô cùng lớn. Những yếu tố chính tạo nên sức mua hàng vượt trội chính là mật độ dân số cao, đông dân, người tiêu dùng có khả năng chi trả và nhu cầu cao đối với số lượng và chất lượng của hàng hóa. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của đại dịch tác động nặng nề lên chuỗi cung ứng khiến nhiều nguồn cung bị đứt gãy, hàng hóa bị trì trệ tại các cảng trung chuyển không được đến tay người tiêu dùng đã ảnh hưởng đến tâm lý mua hàng của đại đa số người dân tại địa phương.

Theo dữ liệu của Cục thống kê TP.HCM, trong cả năm 2021 ghi nhận tính chung tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố ước đạt 1.299 triệu tỉ đồng (theo tỉ giá 0 0 5 hiện hành), giảm 6.78% so với cùng kì năm trước. Với dân số ước tính hơn 9 triệu người sinh sống và làm việc, thành phố Hồ Chí Minh là “điểm nóng” với các kênh thông tin cung ứng hàng hóa. Tâm lý mua hàng và tích trữ với số lượng lớn được thể hiện hết sức rõ rệt tại đây khi chứng kiến đến 3 lần người dân đổ xô đi chợ bất chấp nguy hiểm chỉ trong giai đoạn từ 9/7 đến 22/8/2021 (Vietnamnet ,2021). Nhưng không gì đảm bảo được rằng hiện tượng mua hàng tích trữ sẽ không tiếp tục xảy ra.

Đại dịch COVID – 19 bùng phát mạnh đã có tác động lớn đến cuộc sống thường ngày của con người trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng (La, 2020). Vô hình chung tạo nên nhiều thói quen, từ khách quan đến chủ quan. Đồng thời tâm lí của con người cũng là nhân tố lớn ảnh hưởng đến việc mua sắm hàng hóa bởi vì lo sợ tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, nguồn cung cấp hàng hóa không đủ dẫn đến việc họ phải tích trữ nhiều và hạn chế tối đa việc phải ra ngoài để mua nhu yếu phẩm, một bộ phận người dân đã mua hàng tích trữ để đề phòng tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm xảy ra. Động thái này gây nên tình trạng sốt ảo hàng hóa thiết yếu ở một số khu vực (Hà Trần, 2021).

Trái ngược với một số người đi mua hàng về dự trữ thì đa số mọi người cho rằng không nên làm như vậy (Hữu Đăng, 2020). Phải nói rằng đầu cơ, tích trữ, đội giá sản phẩm là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng vì nó gây ra tổn thất nặng nề cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Trước hết là về phía người dân, hoang mang, lo sợ, sang chấn, khủng hoảng có lẽ là những từ ngữ được nhắc đến nhiều nhất và đó cũng là lời giải thích thỏa đáng nhất cho hành động nhiều người đi gom hàng trong các siêu thị, cửa hàng tạp hóa, chợ. Những nhu yếu phẩm, lương thực, thực phẩm dùng hằng ngày bỗng nhiên trở nên khan hiếm, đặc biệt vào lúc cao điểm những mặt hàng như thực phẩm tươi sống, đồ khô, đồ đóng hộp,luôn trong tình trạng thiếu hàng nghiêm trọng.2 Lý do chọn đề tài Qua quan sát ban đầu, chúng tôi nhận thấy đúng là đã có nhiều bài nghiên cứu về hành vi này nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót.

Để tổng hợp những nghiên cứu này, áp dụng vào những số liệu phù hợp với người dân Việt Nam, chúng tôi chọn TP.HCM cho đề tài “Sự ảnh hưởng của các yếu tố xã hội và tâm lý đến hành vi tích trữ nhu yếu phẩm trong đại dịch COVID-19 ở TP. Nghiên cứu hành vi khách hàng là một vấn đề không mới nhưng việc khai thác những yếu tố tác động đến hành vi này trong đại dịch COVID-19 hiện nay là một vấn đề không hề đơn giản bởi bài nghiên cứu phải tập trung đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến hành vi mua hàng tích trữ trong COVID-19. Đó là các nhằm kiểm soát, kiểm soát tác động do hành vi này tạo. Nhận thức được vấn đề này yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp từ xã hội, chuẩn mực xã hội, hiệu ứng bắt chước và làm theo, nỗi sợ, tâm lý sợ mất kiểm soát, sự bất an, hối tiếc dự đoán.

Từ những yếu tố này, bài nghiên cứu đề xuất những giải pháp cho quản lý chuỗi cung ứng và những biện pháp chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài nhằm cung cấp 1 cái nhìn phần nào rõ nét hơn về bản chất và sự hình thành của hành vi mua hàng tích trữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm nhu yếu phẩm tại TP.HCM trong đại dịch COVID-19" phân tích những yếu tố chính tác động đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng trong bối cảnh dịch bệnh. Các yếu tố như tâm lý người tiêu dùng, sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, và ảnh hưởng của công nghệ được đề cập chi tiết. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về hành vi mua sắm trong thời kỳ khó khăn mà còn cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà kinh doanh trong việc điều chỉnh chiến lược tiếp thị và phân phối sản phẩm.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến, hãy tham khảo bài viết Luận văn tốt nghiệp đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ internet banking tại ngân hàng tmcp đông nam á seabank chi nhánh huế. Ngoài ra, bài viết Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng trên các ứng dụng mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng ở khu vực tp hcm cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi mua sắm trực tuyến trong thời kỳ dịch bệnh. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng ở các kênh bán lẻ hiện đại tại thành phố hồ chí minh để hiểu thêm về xu hướng tiêu dùng bền vững trong bối cảnh hiện tại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về hành vi tiêu dùng trong thời kỳ đại dịch.