chương 1, tác giả đã đề cập một cách khái quát về việc chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp. Đưa ra được mục tiêu nghiên cứu từ tổng quát đến cụ thể, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu để giải quyết vấn đề. Xác định được đối tượng nghiên cứu là các yếu tố liên quan đến nội tình và vĩ mô ảnh hưởng đến 9 Ngân hàng Thương mại (NHTM) niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong phạm vi giai đoạn từ quý 1/2014 đến quý 2/2023. Khóa luận có bố cục 5 chương được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước và tiến hành hoàn thiện thêm.
7 CHƢƠNG 2: KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Cơ sở lý thuyết về thị trƣờng chứng khoán và giá cổ phiếu 2. Khái niệm thị trƣờng chứng khoán Theo điều 4, Luật Chứng khoán 2019, TTCK là nơi diễn ra các các hoạt động giao dịch chứng khoán, mua bán, thay đổi quyền sở hữu đối với chứng khoán. Các cuộc giao dịch có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp đối với các chứng khoán mới phát hành và khi các chứng khoán này tiếp tục được đem ra giao dịch ở thị trường thì sẽ được giao dịch ở thị trường trường thứ cấp.
TTCK là nơi giao dịch các loại tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, phái sinh, tín phiếu,. và là thị trường cung cấp nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế thông qua cơ chế luân chuyển nguồn vốn cho các nhà phát hành chứng khoán một cách trực tiếp từ các NĐT. Thông qua TTCK, NĐT có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán chênh lệch giá, cổ tức. TTCK còn là thước đo đánh giá đối với DN, phản ánh thực trạng và kỳ vọng của thị trường với DN thông qua tin tức, báo cáo tài chính, tác động trực tiếp đến tính thanh khoản.
Ngoài ra đây còn là nơi Chính phủ thực hiện các chính sách của mình, thông qua TTCK vay vốn thực hiện các dự án, đầu tư công, TTCK còn là công cụ để Chính phủ thông qua đó giám sát tình hình kinh tế, tài chính của quốc gia. Khái niệm cổ phiếu Theo điều 4, Luật Chứng khoán 2019, cổ phiếu là một trong các loại tài sản chứng khoán, đóng vai trò là minh chứng cho quyền sở hữu đối với một phần vốn của công ty cổ phần. Cổ phiếu có hai dạng là bút toán ghi số và chứng chỉ. Cổ phiếu là tài sản vô kỳ hạn.
NĐT sau khi mua cổ phiếu sẽ trở thành chủ sở hữu một phần theo tỷ lệ của DN, gọi là cổ đông, cùng chia sẻ lợi nhuận hay chịu đựng tổn thất. Nếu công ty phá sản thì sau khi giải quyết các nghĩa vụ về nợ như trái 8 phiếu, thuế, nợ ngân hàng thì phần còn lại là lợi ích của cổ đông (Điều 54, Luật phá sản, 2014). Các loại giá của của cổ phiếu thƣờng Mệnh giá cổ phiếu Theo điều 13 Luật Chứng khoán 2019, mệnh giá của cổ phiếu (Giá trị danh nghĩa). Là giá trị được DN phát hành ấn định cho cổ phiếu của công ty đó.
Mệnh giá không có giá trị thị trường đối với các NĐT và được sử dụng cho mục đích hạch toán sổ sách. Trong lần thành lập hay niêm yết đầu tiên ra công chúng thì mệnh giá biểu hiện cho số vốn tối thiểu góp vào trên mỗi cổ phần của công ty. Giá thị trƣờng Giá thị trường là giá của cổ phiếu được giao dịch trên thị trường thứ cấp ở một thời điểm nào đó, chịu tác dụng bởi cung và cầu của thị trường. Giá thị trường được hình thành từ các hoạt động mua bán thông qua khớp lệnh, được diễn ra liên tục (Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến, 2011).
Giá thị trường bao gồm 2 loại, giá mở cửa là giá đóng cửa của phiên trước, còn giá đóng cửa là giá của giao dịch cuối cùng trong phiên ngày (Endri, 2016). Giá trị sổ sách Giá trị sổ sách được xác định dựa trên số liệu kế toán, thông qua tài sản có và nợ. Do được tính toán dựa trên số liệu lịch sử nên giá trị sổ sách không phản ánh được giá trị thực tế của cổ phiếu mà phản ánh giá tại thời điểm được tính toán nên sẽ có sai lệch so với thị trường (Marcus và Bodie, 2014). Giá trị sổ sách bỏ qua các yếu tố như kỳ vọng hay vị thế của DN mà chỉ tập trung vào giá trị của DN dựa trên tài sản.
Giá trị nội tại Giá trị nội tại được xác định dựa trên các yếu tố về rủi ro và lợi nhuận nên phụ thuộc vào các nguồn số liệu và có thể có nhiều giá khác nhau tuỳ vào phương 9 pháp tính toán. Giá trị nội tại được xem là một trong các yếu tố phổ biến ảnh hưởng đến quyết định mua cổ phiếu. NĐT sẽ mua cổ phiếu khi giá thị trường thấp hơn giá trị nội tại và kỳ vọng giá tăng để có lợi nhuận, khi này cổ phiếu đang được thị trường định giá thấp. Khi cổ phiếu được có giá cao hơn giá trị nội tại thì NĐT nên bán phòng trường hợp giá cổ phiếu giảm (Marcus và Bodie, 2014).
Các lý thuyết về sự biến động giá cổ phiếu 2. Lý thuyết thị trƣờng hiệu quả (Efficient Market Theory) Eugene Fama tạo ra lý thuyết thị trường hiệu quả vào năm 1970 cho rằng NĐT không thể chiến thắng thị trường, việc phân tích, dự báo dựa trên số liệu quá khứ là vô nghĩa vì dưới giả định thị trường hiệu quả thì các thông tin đã có đều được phản ánh vào giá cổ phiếu, giá thị trường là giá hợp lý của cổ phiếu nên không có trường hợp bị định giá cao hay thấp. Việc tìm kiếm lợi nhuận dựa trên các phân tích, dự báo về giá là không thể vì các thông tin mới có thể xuất hiện trong tương lai. Theo Fama (1970), lý thuyết thị trường hiệu quả gồm ba dạng.
Đầu tiên là dạng thị trường yếu, dạng này cho rằng tất cả thông tin đã xuất hiện đều đã phản ánh hết trong giá cổ phiếu nên thu lợi dựa trên thông tin đã có rồi là điều bất khả thi. Thứ hai là dạng thị trường bán mạnh, dạng này cho rằng NĐT không thể thu lợi nhuận từ các thông tin trong quá khứ hay thông tin mới vừa xuất hiện bởi vì chúng sẽ ngay lập tức được phản ánh trong sự thay đổi giá chứng khoán. Thứ ba là dạng thị trường mạnh, ở dạng này giá chứng khoán phản ánh tất cả thông tin trong quá khứ và hiện tại và cả các thông tin mật, thuộc nội bộ. Tóm lại, lý thuyết thị trường hiệu quả khẳng định giá cổ phiếu được giao dịch trên TTCK là mức giá hợp lý cho cổ phiếu, tất cả các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đều được phản ánh hết vào giá, không có khả năng giá thị trường bị sai lệch.
Ngoài ra, không thể tiến hành dự báo cho tương lai dựa trên những thông tin vĩ mô nếu ở dạng thị trường mạnh do giá trị hiện tại sẽ phản ánh hết lượng thông tin đó, 10 ngược lại thì có thể sử dụng các thông tin vĩ mô ấy để tiến hành dự báo nếu thị trường thiếu hiệu quả. Ngoài ra, cũng theo lý thuyết này, các yếu tố thuộc về nội tình của doanh nghiệp như lợi nhuận có tác tác động mạnh đến giá cổ phiếu. Theo đó, khi lợi nhuận tăng, DN có xu hướng gia tăng về quy mô, tài sản khiến cho giá cổ phiếu tăng theo do các NĐT mua vào theo kỳ vọng. Ngược lại, sự sụt giảm lợi nhuận có thể khiến họ bán ra cổ phiếu.
Bên cạnh đó, các đặc trưng về ngành nghề kinh doanh như chu kỳ có thể tác động đến giá cổ phiếu theo chiều tích cực hoặc tiêu cực. Lý thuyết bƣớc đi ngẫu nhiên (Random Walk Theory) Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên được đưa ra lần đầu tiên bởi Maurice Kendall vào năm 1953, cho rằng biến động giá cổ phiếu trong tương lai hoàn toàn không thể xác định trước. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên phủ định hiệu quả của phân tích cơ bản, kỹ thật và các phương pháp định giá khác trong dài hạn. Theo Maurice Kendall (1953), lý thuyết này nhận định rằng những gì đã xảy ra với cổ phiếu trong quá khứ khứ không ảnh hưởng gì đến tương lai, vì tương lai bất định, sẽ luôn có những rủi ro xảy đến mà ta không thể biết, sự điều chỉnh giá được diễn ra ngay khi thông tin đươc công bố và phản ánh mọi thông tin hiện có của tài sản tài chính.
Thông tin trong ngày sẽ chỉ tác đỗng đến giá cổ phiếu trong phạm vi ngày hôm đó. Sự thay đổi của giá đề khác biệt và độc lập so với các biến động trong quá khứ. Việc phân tích cơ bản là thừa vì nguy cơ đến từ sự sai lệch trong việc thu thập và nhận định thông tin. Đối với phân tích kỹ thuật thì lý thuyết cũng chỉ ra rằng phương pháp này mang lại độ trễ cao, bị động và chậm hơn so với diễn biến thị trường, NĐT mua vào hoặc bán ra khi đã có xu hướng rõ rệt nên gần như đã bỏ lỡ phần lợi nhuận trước đó.
Do vậy, một NĐT nghiệp dư cũng có thể có mức sinh lời tương tự một NĐT chuyên nghiệp nếu đa dang hóa danh mục một cách hợp lý. Các NĐT có thể chọn mua nắm giữ cổ phiếu dài hạn, tìm các DN có quy mô lớn, lợi nhuận tăng trưởng để mua vào vì đây là những yếu tố thúc đẩy giá cổ phiếu tăng trong tương lai. Sự hiệu quả của lý thuyết này tuy vẫn chưa được chấp thuận 11 hoàn toàn nhưng cho thấy được thị trường chuyển động không theo quy tắc, NĐT nếu như chấp nhận rủi ro hoàn toàn có thể thu được lợi nhuận từ thị trường. Tóm lại, lý thuyết bước đi ngẫu nghiên khẳng định giá cổ phiếu chuyển động một cách ngẫu nhiên, không thể được định giá hay dự báo bằng bất cứ phương pháp nào khác như phân tích cơ bản hay kỹ thuật.
Các thông tin về vĩ mô hay vi mô hoặc các yếu tố không lường trước được có thể xảy đến là nguyên nhân ảnh hưởng khiến giá cổ phiếu không thể dự đoán trước, luôn tìm ẩn rủi ro, có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến giá cổ phiếu. NĐT cần phải có nguồn thông tin chuẩn xác cùng với kỹ năng phân tích, chọn lọc để đạt lợi nhuận từ TTCK. Lý thuyết phát tín hiệu (Signalling Theory) Lý thuyết phát tín hiệu nhấn mạnh về sự bết cân xứng trong khả năng tiếp cận thông tin trên thị trường, còn được gọi là lý thuyết về nội dung thông tin.