CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu tổng quát. Những nội dung này sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các cở sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ ngân hàng bán lẻ và chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 2.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ Tùy theo từng quan điểm và cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, hiện nay có một số khái niệm về “Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ” được công nhận phổ biến như sau: Theo nghĩa đen thì Ngân hàng bán lẻ (Retail banking), là cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ. Theo cách hiểu phổ thông thì hoạt động NHBL là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản “cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ”.
Theo WTO, NHBL là nơi mà Khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh, phòng giao dịch (PGD) của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra số dư tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác đi kèm” Theo các chuyên gia kinh tế của học viện nghiên cứu Châu Á - AIT thì dịch vụ NHBL có thể hiểu là: việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNVVN thông qua mạng lưới các chi nhánh ngân hàng thông qua các chi nhánh hoặc là khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông. (Tô Khánh Toàn, 2014) Từ điển giải nghĩa Tài chính - Đầu tư - Ngân hàng - Kế toán Anh Việt, Nhà xuất bản khoa học và kinh tế năm 1999 định nghĩa dịch vụ NHBL là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn. (Đào Lê Kiều Oanh, 2012) 7 Mặc dù còn nhiều khái niệm về NHBL nhưng theo tác giả thì “Dịch vụ NHBL là việc cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh như kênh phân phối truyền thống hoặc mạng lưới phân phối điện tử, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện thông tin, điện tử viễn thông”.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động ngân hàng bán lẻ Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), hoạt động NHBL có những đặc điểm sau: ❖ Đối tượng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ lớn Đối tượng của dịch vụ NHBL gồm số lượng rất lớn các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hướng tới hàng triệu, hàng tỷ dân cư, hộ gia đình và hàng triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số doanh nghiệp trên thế giới, riêng Việt Nam DNVVN chiếm tới 98,1%), lượng khách hàng thể nhân và DNVVN của dịch vụ NHBL lớn hơn nhiều lượng khách hàng bán buôn.
Thông thường, một NHTM cung ứng song hành dịch vụ bán buôn và dịch vụ bán lẻ có số lượng KHBL chiếm khoảng 70-90% tổng số lượng khách hàng. ❖ Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ rất phong phú, đa dạng Do khách hàng của dịch vụ NHBL rất lớn về số lượng, rất rộng về phạm vi, rất đa dạng về thu nhập, chi tiêu, độ tuổi, trình độ, hiểu biết về ngân hàng, nghề nghiệp, tâm lý, thị hiếu… nên nhu cầu của khách hàng cũng rất đa dạng. Vì vậy, NHTM phải luôn thay đổi và phát triển nhằm cung ứng ra nhiều sản phẩm dịch vụ NHBL khác nhau từ các dịch vụ ngân hàng truyền thống đến các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại nhằm thỏa mãn các yêu cầu riêng biệt của từng phân khúc khách hàng. ❖ Số lượng giao dịch lớn, giá trị từng giao dịch nhỏ Do KHBL rất lớn về số lượng, rất đa dạng về nhu cầu nên số lượng giao dịch bán lẻ cũng lớn hơn rất nhiều so với số lượng giao dịch bán buôn.
Tuy nhiên, giá trị các món vay tiêu dùng hoặc giá trị thanh toán hàng hóa dịch vụ của khách hàng thể nhân có giá trị nhỏ, giá trị các gói tín dụng cho các DNVVN cũng 8 không lớn như các gói tín dụng cho khách hàng bán buôn. Tuy vậy, nếu tính tổng thì số dư huy động bán lẻ cũng tạo ra một nguồn vốn đáng kể, dư nợ tín dụng từ hoạt động bán lẻ cũng tạo được nguồn thu ổn định và tăng trưởng bền vững nếu NHTM duy trì và phát triển sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. ❖ Mạng lưới phân phối rộng khắp và đa dạng Nguồn nhân lực lớn và mạng lưới phân phối rộng khắp mới có thể đáp ứng được khối lượng giao dịch lớn và rất đa dạng của dịch vụ NHBL. Ngoài kênh phân phối truyền thống như mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch… thì với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, KHBL còn có thể tiếp cận qua các kênh phân phối như Automatic Teller Machine - Máy rút tiền tự động (ATM), POS, Internet, Auto bank, Mobile v.v… ❖ Dịch vụ ngân hàng bán lẻ có chi phí bình quân trên mỗi giao dịch khá cao nhưng có lợi thế kinh tế theo quy mô và phạm vi Chi phí giao dịch cho dịch vụ NHBL rất lớn.
Xuất phát từ đặc điểm dịch vụ NHBL với số lượng KHBL rất lớn, nhưng giá trị mỗi giao dịch (quy mô của từng hợp đồng vay) thường nhỏ, số lượng giao dịch rất nhiều nên chi phí tổ chức cho vay cao, chi phí thẩm định, chi phí giám sát, chi phí quản lý đối với các nhóm khách hàng là rất lớn. Ngược lại, với lợi thế quy mô giao dịch lớn, NHTM có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch bán buôn bình quân. Đó cũng chính là lý do khiến lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại và công nghiệp. ❖ Dịch vụ ngân hàng bán lẻ cần có hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin hiện đại và luôn cập nhật Hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghệ thông tin cần thiết cho hoạt động kinh doanh của NHTM ở cả hai mảng bán buôn và bán lẻ, nhưng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tác nghiệp và phát triển dịch vụ NHBL.
Hạ tầng kỹ thuật tốt, trình độ công nghệ thông tin hiện đại giúp NHTM lưu giữ và xử lý số lượng khổng lồ cơ sở dữ liệu tập trung từ các PGD/chi nhánh trong mạng lưới phân phối, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản trị của NHTM. Với công nghệ hiện đại, hệ thống quản trị tập trung cho phép mọi giao dịch được hạch toán tức 9 thời về trung tâm dữ liệu giúp cập nhật số liệu kịp thời, chính xác theo từng ngành nghề, từng dịch vụ, cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng và chính xác. Đặc biệt, công nghệ thông tin giúp dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) ra đời và phát triển với khả năng thực hiện các giao dịch trực tuyến và hệ thống dịch vụ ngân hàng tự động qua ATM, POS, mobile… hỗ trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến như chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cư với nhiều hình thức khác nhau. ❖ Rủi ro trong kinh doanh dịch vụ ngân hàng bán lẻ có mức độ phân tán lớn Rủi ro trong hoạt động bán lẻ của NHTM được chia nhỏ và phân tán ra theo từng giao dịch có giá trị nhỏ cho số lượng rất lớn dân cư, hộ kinh doanh và DNVVN.
Do giá trị của mỗi giao dịch nhỏ nên các khách hàng có thể chủ động phản ứng và điều chỉnh khi có sự thay đổi trong môi trường kinh doanh, làm cho rủi ro trong kinh doanh bán lẻ thấp hơn nhiều bán buôn. Do giá trị mỗi giao dịch đều rất lớn nên chỉ cần một khách hàng bán buôn gặp khó khăn về tài chính, mất khả năng chi trả cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của NHTM. ❖ Dịch vụ ngân hàng bán lẻ có tính thời điểm rất cao Không ổn định như dịch vụ ngân hàng bán buôn, thị trường dịch vụ NHBL có nhiều biến động do nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh dịch vụ hoặc sản xuất nhỏ lẻ đều có tính thay đổi cao. Vì thế NHTM phải rất nhanh nhạy trong việc dự đoán, điều chỉnh hoặc phát triển sản phẩm dịch vụ NHBL cho phù hợp, quyết định giảm hay tăng lãi suất, phí dịch vụ.
hoặc lựa thời điểm hợp lý để khuyến mãi.3 Các sản phẩm, dịch vụ cơ bản của ngân hàng bán lẻ Theo tài liệu đào tạo nghiệp vụ NHBL của BIDV (2022), dịch vụ NHBL được cấu thành từ những hoạt động chủ yếu sau: ❖ Dịch vụ huy động vốn Huy động vốn từ dịch vụ NHBL là việc các NHTM động viên các nguồn vốn từ các cá nhân, hộ gia đình hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong xã hội 10 để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình. Các KHCN và DNVVN có nguồn vốn nhàn rỗi tuy không lớn nhưng với số lượng khách hàng đông sẽ tạo nên một nguồn huy động vốn tiềm năng và dồi dào cho các NHTM. Hiện nay, ngoài các sản phẩm tiền gửi truyền thống, các NHTM đã đa dạng hóa nhiều sản phẩm tiết kiệm linh hoạt về kỳ hạn và lãi suất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. ❖ Dịch vụ tín dụng bán lẻ Là quan hệ tín dụng giữa NHTM với các cá nhân, hộ gia đình, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.