CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng là một trong những hoạt động đầu tư quan trọng nhằm đảm bảo an ninh lương thực thế giới, đồng thời là hoạt động giúp xóa đói giảm nghèo cho các quốc gia đang và kém phát triển. Vậy làm thế nào để có thể phát triển ngành nông nghiệp cũng như ngành chăn nuôi một cách bền vững luôn là bài toán đặt ra cho nhiều quốc gia, nhất là trong bối cảnh ô nhiễm và biến đổi khí hậu trên toàn cầu đang ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân tại các quốc gia trên Thế giới. Các nghiên cứu cho thấy có 2 hướng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp an toàn và bền vững với môi trường: (1) nghiên cứu các nhân tố tác động đến thực hành nông nghiệp tốt; và (2) nghiên cứu các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hoạt động thực hành nông nghiệp tốt 1.
Nhóm các yếu tố động lực đầu tư Theo Holleran và cộng sự (1999) cho rằng một trong những động lực để các đơn vị sản xuất áp dụng các biện pháp kiểm soát an toàn thực phẩm là xuất phát từ đòi hỏi của khách hàng. Các nghiên cứu của Henson và Northen (1998), Wannamolee (2008), Mushobozi (2010), Jiao và cộng sự (2010) cũng cho thấy một trong những nhân tố của chuỗi cung ứng nông sản bao gồm nhà sản xuất, nhà chế biến và người tiêu dùng có tác động quan trọng trong việc thúc đẩy áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm, trong đó có thực hành theo tiêu chuẩn GAP. Bởi lẽ, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao tính an toàn của thực phẩm có thể tạo ra ưu thế cạnh tranh so với các đối thủ theo nghiên cứu của Reardon and Farina (2001). Cùng quan điểm này, Nguyễn Thị Hồng Trang (2016) trong nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trong các cơ sở sản xuất rau ở Việt Nam” cũng đã đi sâu xem xét khá chi tiết tác động yêu cầu của từng nhóm khách hàng đến việc áp dụng GAP bao gồm: đòi hỏi từ phía khách hàng; yêu cầu của khách hàng là các siêu thị và cửa hàng bán lẻ; yêu cầu của khách hàng là thương lái; yêu cầu của khách hàng là các trường học và bếp ăn tập thể; yêu cầu của khách hàng là các nhà máy chế biến; yêu cầu của khách hàng là các hộ gia đình; yêu cầu của khách hàng tại các chợ đầu mối.
Nghiên cứu sử dụng cả 2 phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên cơ sở phân tích 130 mẫu khảo sát, tại 26 tỉnh thành 15 phố. Nghiên cứu sử sử dụng mô hình hồi quy phi tuyến Logistic để phân tích mức độ quan trọng của từng nhân tố tới việc áp dụng GAP của các cơ sở. Tổng hợp kết quả phân tích của cả 2 phương pháp định tính và định lượng cho thấy, 4 trong số 7 nhân tố được xem xét bao gồm: yêu cầu áp dụng GAP của khách hàng; yêu cầu của khách hàng là các hộ gia đình; yêu cầu của khách hàng là siêu thị và cửa hàng bán lẻ; yêu cầu của khách hàng là các nhà máy chế biến là nhân tố góp phần thúc đẩy việc áp dung GAP của các hộ nông dân.
Như vậy, nghiên cứu này cũng cho thấy yêu cầu của khách hàng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy việc áp dụng GAP. Tuy nhiên, nhược điểm trong nghiên cứu này là số mẫu phân tích nhỏ và tỷ lệ mẫu không hợp lý khi nghiên cứu được khảo sát trên 26 tỉnh thành của cả nước nhưng tổng số mẫu thu thập tập trung chủ yếu vào 2 thành phố lớn là Hà Nội (33 mẫu) và TP Hồ Chí Minh (26 mẫu), chiếm gần 50% tổng số mẫu. Nghiên cứu mới dừng ở việc xem xét tác động của các yếu tố tới việc áp dụng GAP trong sản xuất rau. Các nghiên cứu về việc thực hành nông nghiệp bền vững (SAP), trong đó có thực hành theo GAP của Pannell và cộng sự (2006); Knowler và Bradshaw (2007); Prokopy và cộng sự (2008); Baumgart-Getz và cộng sự (2012); Tey và Brindal (2012); Tey và cộng sự (2014) thì cho rằng khả năng sinh lời là nhân tố quyết định nhất cho việc áp dụng thực hành nông nghiệp bền vững của các nông trại.
Nguyễn Thị Hồng Trang (2016) trong nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trong các cơ sở sản xuất rau ở Việt Nam” cũng cho rằng lợi ích về lợi nhuận là yếu tố tác động quan trọng đến việc áp dụng GAP của các cơ sở sản xuất. Kumar và cộng sự (2013) trong một nghiên cứu thực nghiệm“Tham gia hợp tác xã có nâng cao sản lượng, năng suất và chất lượng sữa? Bằng chứng từ Đồng bằng Indo-Gangetic của Ấn Độ” (Do Dairy Co-operatives Enhance Milk Production, Productivity and Quality? Evidences from the Indo-Gangetic Plain of India) có nghiên cứu về tác động của các hợp tác xã ở cấp độ trang trại đối với hiệu suất chăn nuôi bò sữa và đối với việc áp dụng các biện pháp an toàn thực phẩm trong sản xuất sữa cũng như chất lượng sữa. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu thu thập được từ 675 hộ gia đình chăn nuôi bò sữa ở 3 Bang của Ấn Độ là bang Bihar, Punjab và Uttar Pradesh vào năm 2007. Các bang này thể hiện sự đa dạng về mặt địa lý và thể chế khác nhau trong sản xuất và tiêu thụ sữa.
Nghiên cứu đã phân tích tác động của hợp tác xã đến hoạt động chăn nuôi của các hộ nông dân theo một số chỉ số quan trọng. Các chỉ số này bao gồm kích thước đàn và thành phần của nó, sản lượng sữa và năng suất, khả năng tiếp cận thị trường và áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Để đưa ra đánh giá so sánh 16 về tình trạng chấp nhận tuân thủ các biện pháp an toàn thực phẩm trên các loại trang trại khác nhau, chỉ số về áp dụng các biện pháp an toàn thực phẩm được phát triển dựa trên các điểm số trọng số của các thành phần khác nhau trong thực hành an toàn thực phẩm. Việc áp dụng các các biện pháp an toàn thực phẩm được xem xét cho 4 nội dung: vắt sữa hợp vệ sinh, bảo quản vệ sinh, bảo trì các cơ sở đảm bảo vệ sinh và môi trường xung quanh.
Bốn loại này được xếp theo trọng số tương ứng là 0,30, 0,35, 0,20 và 0,25, dựa trên tầm quan trọng tương đối của chúng trong việc đảm bảo an toàn sữa. Bằng việc sử dụng mô hình Probit, nghiên cứu đã chứng minh rằng quy mô chăn nuôi của các thành viên tham gia hợp tác xã lớn hơn các thành viên không tham gia. Các thành viên hợp tác xã cũng tiếp cận thị trường tốt hơn để bán sữa của họ. Họ có thể sản xuất sữa với chi phí thấp hơn trên mỗi đơn vị sản xuất và bán được giá cao hơn so với nông dân không phải là thành viên.
Quan trọng hơn, các hợp tác xã có thể đóng vai trò thúc đẩy việc áp dụng các biện pháp an toàn thực phẩm ở cấp độ trang trại. Các hợp tác xã dường như đã mang lại một thay đổi tích cực trong việc tăng cường áp dụng các biện pháp an toàn sữa của nông dân. Các minh chứng trong thực nghiệm cho thấy số thành viên nông dân của hợp tác xã tuân thủ các biện pháp an toàn thực phẩm trong sản xuất sữa cao hơn đáng kể so với các thành viên độc lập. Cùng quan điểm này, Nguyễn Văn Hùng (2015) trong một nghiên cứu về “các nhân tố tác động đến việc tham gia VietGAP của các hộ trồng thanh long ở huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận” cũng cho rằng nếu các hộ nông dân có tham gia hội đoàn thể thì sẽ tăng khả năng tham gia thực hành nông nghiệp tốt.
Nguyễn Ngọc Xuân và Nguyễn Hữu Ngoan (2014) đã tiến hành một phân tích thực nghiệm về “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng tiêu chuẩn chăn nuôi lợn theo tiêu chuẩn GAHP” tại 3 huyện Thạch Thất, Ứng Hòa, Gia Lâm (Hà Nội) với 195 hộ chăn nuôi. Nghiên cứu sử dụng cả 2 phương pháp định tính và định lượng. Với phương pháp định tính, nghiên cứu xây dựng thang đo và các biến quan sát. Thang đo Likert được sử dụng để đánh giá mức độ áp dụng 100 tiêu chí trong 17 nhóm tiêu chuẩn VietGAP.
Phương pháp định lượng được sử dụng là phương pháp phân tích nhân tố khám phá để xác định các nhân tố phù hợp và sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’ Alpha để kiểm định mối tương quan giữa các nhân tố trong thang đo. Nghiên cứu đã xây dựng 10 nhóm nhân tố mới để đánh giá khả năng áp dụng VietGAP trong chăn nuôi lợn, bao gồm (1) nhóm nhân tố về công tác vệ sinh trong chăn nuôi; (2) nhóm nhân tố về quản lý nguồn thức ăn chăn nuôi; (3) nhóm nhân tố về công tác ghi sổ; (4) nhóm nhân tố về chuồng trại chăn nuôi; (5) nhóm nhân tố về chất lượng thức ăn; (6) nhóm nhân tố vị trí 17 chăn nuôi; (7) nhóm nhân tố về chất lượng con giống; (8) nhóm nhân tố về khiếu nại và giải quyết khiếu nại; (9) nhóm nhân tố thiết bị phục vụ chăn nuôi; (10) vận chuyển và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi tốt theo tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn Hà Nội còn ít. Chỉ có 16,4% số cơ sở chăn nuôi áp dụng trên 70 tiêu chí của tiêu chuẩn, số cơ sở áp dụng dưới 30 tiêu chí là 49,2%.
Trong các nhóm nhân tố trên, nhóm nhân tố về vệ sinh trong chăn nuôi; quản lý chất lượng thức ăn, nước uống; kiểm soát côn trùng và loại gặm nhấm; quản lý nhân sự là những yêu cầu dễ áp dụng và được thực hiện nhiều nhất trong chăn nuôi theo VietGAP. Nhóm các tiêu chí về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, vị trí chăn nuôi, bảo quản thuốc thú y và phòng bệnh là những tiêu chí khó áp dụng trong chăn nuôi theo VietGAP. 10 nhóm nhân tố trên đều ảnh hưởng và quyết định đến 67,55% khả năng áp dụng VietGAP trong chăn nuôi, đặc biệt tiêu chí về vệ sinh trong chăn nuôi có ảnh hưởng lớn nhất và quyết định đến 11,57% khả năng áp dụng tiêu chuẩn VietGAP.