mở đầu cho khái niệm giá trị dựa trên chi phí (tiền). Trong lĩnh vực dịch vụ, giá trị cảm nhận không chỉ giới hạn ở khía cạnh về chất lượng và giá cả (Sheth và cộng sự, 1991). Giá trị cảm nhận là một cấu trúc tổng 12 hợp mang ý nghĩa phong phú hơn không đơn thuần chỉ là sự đánh đổi giữa giá cả và những lợi ích (Monroe, 1990; Zeithaml, 1988). Bởi vì bản chất phức tạp của giá trị cảm nhận, có rất nhiều nghiên cứu xây dựng thang đo giá trị cảm nhận với cấu trúc đa chiều (Hartman, 1967; HolBrook và Corfman, 1985; Sheth và cộng sự, 1991, Holbrook, 1994; Monroe và Krishnan, 1998; Woodruff, 1997).
Sheth và cộng sự (1991) đã phát triển và điều chỉnh thang đo giá trị cảm nhận gồm 5 nhân tố: giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc, giá trị hiểu biết và giá trị điều kiện. Sweeney và Soutar (2001) đã xây dựng thang đo PERVAL với 4 nhân tố là chất lượng, cảm xúc, giá và xã hội. Sau đó, Sanchez và cộng sự (2006) đã phát triển giá trị cảm nhận mang tính rộng rãi hơn như: giá trị chức năng trong việc lắp đặt, vận hành; giá trị chức năng về vấn đề liên hệ thông tin; giá trị chức năng của giá cả; giá trị xã hội và áp dụng thang đo này trong dịch vụ lữ hành. Giá trị chức năng Giá trị điều kiện Giá trị xã hội Giá trị cảm nhận của khách hàng Giá trị cảm xúc Giá trị hiểu biết Hình 2-1: Mô hình giá trị cảm nhận của Sheth và cộng sự (1991) Giá trị chức năng (Functional Value): những lợi ích nhận được từ những thuộc tính chức năng và tính năng sử dụng sản phẩm/dịch vụ.
Giá trị chức năng có liên quan đến tính thiết thực kinh tế của sản phẩm, đến những lợi ích gắn kết với 13 việc được sở hữu sản phẩm – dịch vụ và được khách hàng đánh giá trên một chuỗi những thuộc tính nổi bật như giá cả, sự đáng tin cậy, tính lâu bền. Đặc biệt, trong nhiều nghiên cứu giá trị chức năng đồng nghĩa với chất lượng (Peterson và Wilson, 1985; Parasuraman và cộng sự, 1988, 1991). Giá trị điều kiện (Conditional Value): Tập hợp những tình huống mà khách hàng phải đối mặt khi thực hiện việc lựa chọn sản phẩm/dịch vụ. Các tình huống này tác động đến sự đánh giá của khách hàng về những tiện ích của sản phẩm/dịch vụ.
Giá trị xã hội (Social Value): Liên quan đến những lợi ích nhận được từ sự gắn kết mối quan hệ của khách hàng với các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Những chú ý của bạn bè hay của các thành viên trong tổ chức (Park và Lessig, 1977) sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá về sản phẩm/dịch vụ của khách hàng. Giá trị cảm xúc (Emotional value): Được xem như khả năng của sản phẩm/dịch vụ khơi dạy cảm xúc/tình cảm hay các tiện ích bắt nguồn từ cảm xúc, hoặc trạng thái tình cảm do sản phẩm/dịch vụ tạo ra. Giá trị hiểu biết (Epistemic Value): Khả năng sản phẩm/dịch vụ cung cấp tính năng mới đáp ứng mong muốn về nâng cao kiến thức, sự thoả mãn về hiểu biết.
Theo Zeithaml và cộng sự (1996) thì giá trị hiểu biết được xem là một chức năng quan trọng của giá trị và có thể ảnh hưởng đến chuyển đổi hành vi sử dụng sản phẩm/dịch vụ của khách hàng. Các yếu tố tạo ra giá trị cảm nhận của khách hàng trong môi trường doanh nghiệp (B2B) Thị trường B2B khác so với thị trường B2C cụ thể như: quảng cáo, phương thức mua hàng,… (Kotler, 2003), ông đã đề cập đến các đặc điểm điển hình sau: Một công ty trong thị trường B2B có số lượng khách hàng ít hơn nhiều so với một công ty trong thị trường B2C và đa số khách hàng trong B2B lại tiêu thụ một lượng sản phẩm rất lớn. Một số lượng nhỏ khách hàng tạo nên giá trị lớn trong đơn hàng của doanh nghiệp chính là mục tiêu mà doanh nghiệp theo đuổi. Trong mối quan hệ B2B, khách hàng mua sản phẩm không vì mục đích tiêu dùng cá nhân 14 mà dùng chính sản phẩm này để phục vụ cho chiến lược kinh doanh của mình, vì vậy, quyết định mua sản phẩm phụ thuộc rất nhiều yếu tố như chiến lược, nguồn lực công ty (ngân sách, con người, thiết bị,…), uy tín công ty, mối quan hệ,… Trong quá trình ra quyết định mua hàng của công ty sẽ có rất nhiều người liên quan và ảnh hưởng đến quyết định mua, các nhà cung cấp cần phải nhận thức ra những người ảnh hưởng đến quyết định đó.
Do quá trình này phức tạp và có sự tham gia của nhiều người, vì vậy, nhiều cuộc gọi bán hàng là cần thiết để thuyết phục khách hàng mới B2B. Thị trường B2B cũng cho thấy trong giá trị cảm nhận còn thành phần giá trị mối quan hệ của hai doanh nghiệp. Webster (1995) và Bonoma (1982) đã xác định những yếu tố có vai trò khác nhau trong việc tổ chức mua và quá trình ra quyết định (Jobber và Lancaster, 2006): - Người khởi xướng (Initiators): Yêu cầu một điều gì đó được mua hoặc bắt đầu quá trình mua. - Người dùng (Users): Những người sử dụng cuối, cũng có xu hướng là những người khởi xướng.
- Người có ảnh hưởng (Influencers): Là người ảnh hưởng đến quá trình mua hàng thông qua việc cung cấp thông tin, bổ sung thêm tiêu chí quyết định và giúp xác định các thông số kỹ thuật. Người có ảnh hưởng thường là nhân viên kỹ thuật. - Người ra quyết định (Deciders): Là những người cuối cùng đưa quyết định về kỹ thuật hoặc chọn nhà cung cấp. - Người mua (Buyers): là người chính thức thực hiện các thoả thuận hợp đồng và các điều khoản mua.
Người mua có thể là các nhà quản lý cấp cao. - Người phê duyệt (Approvers): người có quyền lực cho phép các hành động của người quyết định hoặc người mua. - Người kiểm soát (Gatekeeper): Là người mà có thể cản trở thông tin đến các thành viên khác trong quá trình mua. Và người này có khả năng cản trở quá trình mua hàng dù đã được người mua hoặc người phê duyệt đồng ý mua.
Người kiểm soát này có thể là các thư ký hay trợ lý. Giá trị trong thị trường kinh doanh (B2B) là giá trị về mặt tiền tệ thông qua những lợi ích về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và dịch vụ của một công ty khách hàng 15 nhận được trong quá trình trao đổi về giá cả thông qua trả tiền cho một cung cấp trên thị trường (Anderson và cộng sự, 1993; Anderson và Narus, 1998; Anderson, và cộng sự, 2007). Giá trị trong một bối cảnh B2B được đo như là giá trị cho người mua và người bán một cách riêng biệt, tức là giữa các giá thoả thuận và giá tối thiểu của người bán (chi phí cung cấp) và giá tối đa của người mua (khách hàng mong muốn giá trị với những người khác) tương ứng. Trong một số giá trị liên quan cũng có thể được đánh đồng với khái niệm kinh tế "thặng dư".
Giá tối thiểu của người bán là bao gồm tất cả các chi phí khi thực hiện giao dịch, và do đó bất cứ mức giá nào trên mức giá tối thiểu đều tạo ra một lượng giá trị gọi là giá trị thặng dư và cũng có thể đánh đồng với giá trị kinh tế. Giá trị phi tiền tệ là một vấn đề không được xem xét trong các khái niệm về thặng dư, giá phi tiền tệ có thể được xem như là bổ sung và hoàn thiện các khái niệm về thặng dư. Nếu chúng ta nên xem xét nhiều hơn nữa các lợi ích phi tiền tệ khác thu được do người mua như khai thác vào kiến thức chuyên môn hoặc tập trung vào năng lực cốt lõi. Từ những phân tích về mục đích, người tham gia quyết định mua, người tiêu dùng cuối, lợi ích nhận được từ sản phẩm/dịch vụ chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt khá rõ giá trị cảm nhận trong hai môi trường kinh doanh là khác nhau.
Ở môi trường B2B ngoài yếu tố giá cả, chức năng sản phẩm/dịch vụ, chất lượng dịch vụ thì yếu tố hình ảnh cá nhân sẽ không được quan tâm mà thêm vào đó là các yếu tố về chiến lược, mối quan hệ giữa hai công ty, năng lực lõi, hiểu biết khách hàng, thời gian giao dịch,. sẽ được quan tâm đo lường. Các yếu tố tạo ra giá trị cảm nhận của khách hàng trong ngành công nghiệp phần mềm. Khái niệm về phần mềm Phần mềm là một tập hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trình tự xác định nhằm tự động thực hiện một số chức năng hoặc giải quyết một vấn đề tính toán nào đó.
16 Phần mềm mang lại cho con người sự tự động hoá nhằm tiết kiệm thời gian đồng thời sản xuất phần mềm cũng mang tính cạnh tranh nhằm đưa nền công nghệ phát triển ngày một lớn mạnh hơn. Có thể phân loại phần mềm theo phương thức hoạt động như là phần mềm hệ thống (Windows, Linux,.), phần mềm ứng dụng (office,. Cùng với tốc độ phát triển nhanh, rộng của công nghệ trên nền Internet và các thiết bị di động, xu hướng phần mềm quản lý đang chuyển dần sang trực tuyến, phù hợp tiêu chí “bất cứ đâu”, “bất kỳ thời gian nào” đều có thể sử dụng. Mô hình giá trị cảm nhận của Lapierre (2000) Lapierre (2000) tiến hành đo lường giá trị cảm nhận của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin gồm 2 yếu tố sau: lợi ích và sự đánh đổi.
Lợi ích (benefits) của khách hàng: là những lợi ích mà khách hàng có được khi tiêu dùng một sản phẩm/dịch vụ mà nhà cung cấp mang lại cho khách hàng thông quan sản phẩm của mình. - Giải pháp thay thế liên quan tới sản phẩm (alternative solutions). - Chất lượng phần mềm (software quality). - Phần mềm tùy biến theo yêu cầu (software customization).
- Linh hoạt của dịch vụ (flexibility). - Độ tin cậy của dịch vụ (reliability). - Năng lực kỹ thuật đáp ứng dịch vụ (technical competence). - Hình ảnh của nhà cung cấp (supplier's image).
Hy sinh (sacrifices) của khách hàng: là tổng chi phí tiền tệ và phi tiền tệ khách hàng đầu tư hoặc cho nhà cung cấp để hoàn thành một giao dịch hoặc để duy trì một mối quan hệ với một nhà cung cấp. - Giá liên quan tới sản phẩm / dịch vụ (price). 17 - Thời gian / nỗ lực / công sức liên quan tới mối quan hệ ( time/ effort/ energy ). - Xung đột liên quan tới mối quan hệ (conflict).